vanban.org

Bản án 185/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÓC MÔN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 185/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 02-3-2018
V/v ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, TP.HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Văn Chính

2. Bà Lê Thị Xin

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Anh Phong – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc

Môn.

Ngày 02 tháng 3 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 892/2017/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2017 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 11/2018/QĐST – HNGĐ ngày 05 tháng 02 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Hoài V, sinh năm 1981 (có mặt)

Địa chỉ: tổ 36, Hòa Thọ Đông, quận C, Tp.Đ

Tạm trú: nhà không số, tổ 19, ấp 2, xã Đ, huyện H, TP.HCM.

2. Bị đơn: Anh Bùi Văn L, sinh năm 1982 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn 3, xã T, huyện T, tỉnh T.

Tạm trú: nhà không số, tổ 19, ấp 2, xã Đ, huyện H, TP.HCM.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn đề ngày 18/7/2017 và trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn Đặng Thị Hoài V trình bày:

Về hôn nhân: Chị V đăng ký kết hôn với anh Bùi Văn L tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh T vào ngày 11/8/2008 (Giấy chứng nhận kết hôn số 43/Quyển số 03). Sau khi kết hôn được một thời gian, anh chị phát sinh mâu thuẫn do tính cách, suy nghĩ và lối sống khác nhau. Trong cuộc sống, anh L không tôn trọng vợ, thiếu trách nhiệm với gia đình, thường xuyên bỏ nhà đi. Chị V có nhiều lần góp ý nhưng anh L không sửa đổi và còn đánh đập chị V, do vậy giữa vợ chồng ngày càng phát sinh mâu thuẫn nghiêm trọng và xa cách nhau. Do không còn thương yêu, quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau nên giữa chị V và anh L đã sống ly thân nhau từ tháng 6 năm 2015 cho đến nay. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị V yêu cầu ly hôn anh L.

Về nuôi con chung: vợ chồng có 01 con chung là cháu Bùi Thị Khánh P, sinh ngày 02/9/2010. Trường hợp ly hôn, chị V có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu P và không yêu cầu anh L cấp dưỡng tiền nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: không có.

Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng bị đơn vắng mặt nên Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn quyết định đưa vụ án ra xét xử để Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÕA ÁN:

[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn nhận định:

[2] Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn chị Đặng Thị Hoài V khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Bùi Văn L nên đây là tranh chấp về ly hôn. Bị đơn Bùi Văn L hiện đang cư trú trên địa bàn huyện Hóc Môn, vì vậy Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Tp.HCM thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Anh Bùi Văn L (là bị đơn trong vụ án) đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh L.

[3] Về hôn nhân: Chị Đặng Thị Hoài V và anh Bùi Văn L tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh T vào ngày 11/8/2008, do vậy hôn nhân của chị V và anh L là hôn nhân hợp pháp. Nay chị V yêu cầu ly hôn anh L nên Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 để giải quyết.

Xét thấy giữa chị V và anh L có mâu thuẫn và hai bên đã sống ly thân từ tháng 6 năm 2015 đến nay, trong thời gian vợ chồng sống ly thân hai bên không còn thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau. Phía chị V xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể sống chung với anh L. Phía anh L mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo phiên hòa giải và tiếp cận công khai chứng cứ, thông báo kết quả tiếp cận công khai chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do, điều đó thể hiện anh L không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc gia đình. Theo quy định tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định: “Ñöông söï coù nghóa vuï ñöa ra chöùng cöù ñeå chöùng minh maø khoâng ñöa ra ñöôïc chöùng cöù hoaëc khoâng ñöa ra ñuû chöùng cöù thì Toøa aùn giaûi quyeát vuï vieäc daân söï theo nhöõng chöùng cöù ñaõ thu thaäp ñöôïc coù trong hoà sô vuï vieäc”. Như vậy, anh L đã từ bỏ quyền chứng minh của mình. Do đó, xét thấy mâu thuẫn giữa chị V và anh L là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của chị V là có cơ sở chấp nhận.

[4] Về nuôi con chung: chị V và anh L có 01 con chung là cháu Bùi Thị Khánh P, sinh ngày 02/9/2010. Chị V có yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con. Xét thấy hiện nay cháu P đang do chị V trực tiếp nuôi dưỡng, anh L không có ý kiến gì đối với việc nuôi con của chị V. Hơn nữa tại bản tự khai ngày 17/8/2017 cháu P có nguyện vọng được sống chung với mẹ. Vì vậy, việc giao cháu P cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng chính đáng của con. Do đó, xuất phát từ quyền lợi về mọi mặt của con, theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014, cần giao cháu P cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng.

Chị V không yêu cầu anh L cấp dưỡng tiền nuôi con, do đó tạm ngưng cấp dưỡng tiền nuôi con đối với anh L cho đến khi chị V có đơn yêu cầu.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 91 và Điều 227 Bộ Luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân:

Cho ly hôn giữa chị Đặng Thị Hoài V và anh Bùi Văn L.

2. Về nuôi con chung:

2.1. Giao con chung là cháu Bùi Thị Khánh P, sinh ngày 02/9/2010 cho chị Đặng Thị Hoài V trực tiếp nuôi dưỡng.

2.2. Tạm ngưng cấp dưỡng tiền nuôi con đối với anh L cho đến khi chị V có đơn yêu cầu.

Vì lợi ích con chung, bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến quyền này. Khi cần thiết một hoặc cả hai bên có thể yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc quyết định mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: không có.

4. Về án phí:

Chị Đặng Thị Hoài V phải chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí sơ thẩm ly hôn, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm ngàn) đồng chị V đã nộp theo Biên lai số 0032399 ngày 25/7/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn.

Tröôøng hôïp quyeát ñònh ñöôïc thi haønh theo quy ñònh taïi Đieàu 2 Luaät Thi haønh aùn daân söï thì ngöôøi ñöôïc thi haønh aùn daân söï, ngöôøi phaûi thi haønh aùn daân söï coù quyeàn thoûa thuaän thi haønh aùn, quyeàn yeâu caàu thi haønh aùn, töï nguyeän thi haønh aùn hoaëc bò cöôõng cheá thi haønh aùn theo quy ñònh taïi caùc Đieàu 6, 7 vaø 9 Luaät Thi haønh aùn daân söï; thôøi hieäu thi haønh aùn ñöôïc thöïc hieän theo quy ñònh taïi Đieàu 30 Luaät Thi haønh aùn daân söï.

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ