- Tranh chấp gì? án hình sự — "VI VĂN SG- TTTPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 184/2024/HSST Ngày 03 - 7 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ H CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA
- Thành phần H đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lô Văn Long
Các H thẩm nhân dân: Ông Hà Văn Cương; ông Lò Văn Viễn
- Thư ký phiên toà: Bà Lý Thị Thùy Linh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên toà: Ông Trần Thanh Quân - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 195/2024/HSST ngày 07 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 189/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vi Văn S, sinh năm 2001, tại huyện Sông M, tỉnh Sơn La;
Nơi cư trú: Bản Xớn, xã Ch H, huyện Quỳ Ch, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt nam; con ông Vi Văn H và bà Vạn Thị H; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/03/2024 cho đến nay; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14 gi 00 phút ngày 09/3/2024 t công tác Công an xã Mư ng Lầm, huyện Sông Mã làm nhiệm vụ tại bản Mư ng Tợ, xã Mư ng Lầm, huyện Sông Mã phát hiện một thanh niên đang đi bộ có biểu hiện phạm tội về ma túy nên t công tác tiến hành kiểm tra. Ngư i thanh niên khai nhận là Vi Văn S, sinh năm 2001, nơi cư trú bản Xớn, xã Ch H, huyện Quỳ Ch, tỉnh Nghệ An. Thấy t công tác S đã thả từ lòng bàn tay trái xuống nền đư ng ngay vị trí S đứng một gói nilon màu trắng. T công tác yêu cầu S nhặt lên giao nộp, qua kiểm tra phát hiện bên trong gói nilon chứa chất bột liên kết màu trắng (S khai nhận là Herone) mục đích mua về sử dụng. T công tác đã lập biên bản bắt ngư i phạm tội quả tang thu giữ và niêm phong vật chứng.
Ngày 09/3/2024 tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã đã thành lập H đồng mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng vật chứng và trích mẫu giám định, kết quả: Chất bột liên kết màu trắng có khối lượng 0,46 gam, trích 0,10 gam làm mẫu giám định ký hiệu V, vật chứng còn lại 0,36 gam lưu kho ký hiệu L.
Kết luận số 669/KL-KTHS ngày 13/3/2024 c a hòng k thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: " u ký hi u V g i giám đ nh là ma túy, loại Heroine (Heroin , có tên khoa h c là iacetylmorphine, đ c quy đ nh tại B luật hình s năm 2015 (s a đ i, b sung năm 2017 và Ngh đ nh s 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy đ nh các danh m c ch t ma túy và ti n ch t; kh i l ng của m u g i giám đ nh là 0,10 gam. T ng kh i l ng ma túy thu gi là 0,46 gam, loại Heroine (Heroin , có tên khoa h c là iacetylmorphine, đ c quy đ nh tại B luật hình s năm 2015 (s a đ i, b sung năm 2017 và Ngh đ nh s 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy đ nh các danh m c ch t ma túy và ti n ch t".
Quá trình điều tra bị cáo Vi Văn S khai nhận hành vi phạm tội như sau: Vi Văn S sử dụng ma túy từ năm 2019. S ngày 09/3/2024, S theo đoàn diễn xiếc đến dựng rạp xiếc để biểu diễn tại xã Mư ng Lầm, huyện Sông Mã. Đến khoảng 13 gi cùng ngày, S mang theo số tiền 250.000 đồng (tiền tiết kiệm mà có) đi bộ ra khu vực nghĩa trang c a xã Mư ng Lầm để tìm mua ma túy sử dụng (S không biết tên bản). Khi đến gần khu nghĩa trang, S gặp một ngư i đàn ông không quen biết khoảng 40 tu i đang đứng, qua trò chuyện S hỏi mua 250.000 đồng Heroine thì được ngư i đàn ông đồng ý nhận tiền, rồi lấy từ trong ngư i ra đưa cho S một gói nilon màu trắng bên trong chứa Heroine. S nhận gói ma túy rồi cầm ở lòng bàn tay trái đi bộ về rạp xiếc. Đến 14 gi 30 phút cùng ngày, S về đến khu vực bản Mư ng Tợ, xã Mư ng Lầm thì bị t công tác Công an xã Mư ng Lầm làm nhiệm vụ kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng.
Cáo trạng số 143/CT-VKSSM ngày 06 tháng 6 năm 2024 c a Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử bị cáo Vi Văn S về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Vi Văn S đã khai nhận hành vi phạm tội c a mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật viện dẫn áp dụng như nội dung bản Cáo trạng. Đề nghị H đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Vi Văn S phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Vi Văn S từ 01 năm 10 tháng đến 02 năm 02 tháng tù;
Đề nghị H đồng xét xử không áp dụng hình phạt b sung đối với bị cáo.
Vật chứng c a vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoảng 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị HĐXX: Tịch thu để tiêu h y 0,36 gam ma túy, loại Heroine đựng trong túi nilon màu xanh; 01 mảnh nilon màu trắng; 01 vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở.
Về án phí: Bị cáo Vi Văn S thuộc đối tượng hộ cận nghèo, nên đề nghị xem xét miễn án phí hình sự sơ cho bị cáo thẩm theo quy định.
Bị cáo Vi Văn S không có ý kiến gì đối đáp với l i luận tội c a Kiểm sát viên, khi được nói l i sau cùng, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra và kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cở sở xem xét đầy đ và toàn diện chứng cứ, ý kiến c a Kiểm sát viên, l i khai c a bị cáo, các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, H đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định c a cơ quan, ngư i tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Mã, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, th tục theo quy định c a Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng c a Cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng c a Cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh và điều luật áp dụng: L i khai c a bị cáo tại phiên toà phù hợp với l i khai c a bị cáo tại Cơ quan điều tra; Biên bản bắt ngư i phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Ngày 09/3/2024 bị cáo Vi Văn S đã có hành vi tàng trữ 0,46 ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ.
Tại phiên toà bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi, vẫn giữ nguyên l i khai như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã, không thay đ i, b sung thêm nội dung gì làm thay đ i nội dung c a vụ án và hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng c a Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện. Như vậy, Cáo trạng c a Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố bị cáo về tội: Tàng tr trái phép ch t ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; phát biểu luận tội c a c a Kiểm sát viên tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị mức xử phạt tù giam đối với bị cáo về tội danh nêu trên là phù hợp, có căn cứ, đúng ngư i, đúng pháp luật.
Từ những căn cứ nêu trên H đồng xét xử có đ cơ sở kết luận: Hành vi mà bị cáo Vi Văn S thực hiện đã phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Về tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội c a bị cáo là nguy hiểm cho xã H. Bị cáo nhận thức được hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy c a mình là vi phạm điều cấm c a pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện, thể hiện sự coi thư ng pháp luật, vi phạm chế độ độc quyền quản lý c a Nhà nước về chất ma túy và gây mất trật tự trị an xã H tại địa phương nên cần xử lý nghiêm.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt chính: Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội c a bị cáo; khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân c a bị cáo, xét thấy cần áp dụng hình phạt tù giam đối với bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đ i sống xã H trong một th i gian nhất định nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã H cũng như công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm.
Về hình phạt b sung là phạt tiền: H đồng xét xử thấy bị cáo không có tài sản, nên không áp dụng hình phạt b sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về các vấn đề có liên quan: Đối với ngư i đàn ông không rõ tên, địa chỉ là ngư i đã bán ma tuý cho bị cáo tại khu vực nghĩa trang xã Mư ng Lầm, huyện Sông Mã vào ngày 09/3/2024. Do không xác định được họ tên đầy đ và địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án này.
Vật chứng c a vụ án: Đối với 0,36 gam ma túy, loại Heroine đựng trong túi nilon màu xanh; 01 mảnh nilon màu trắng; 01 vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở là vật cấm lưu hành và vật không có giá trị sử dụng, nên cần tịch thu để tiêu h y.
Về án phí: Bị cáo Vi Văn S thuộc đối tượng hộ cận nghèo, nên được xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố bị cáo Vi Văn S phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Vi Văn S 01 (một) năm 10 (mư i) tháng tù. Th i hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/03/2024.
- Không áp dụng hình phạt b sung là phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoảng 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu để tiêu h y 0,36 gam ma túy, loại Heroine đựng trong túi nilon màu xanh; 01 mảnh nilon màu trắng; 01 vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở.
(các vật chứng đ c đ ng trong m t phong bì th do B u đi n Vi t Nam phát hành đ c niêm phong, gi y dán niêm phong có mã s 080359).
Theo Quyết đ nh chuyển vật chứng s : 128/QĐ-VKS ngày 04/6/2024 của Vi n kiểm sát nhân dân huy n Sông ã và Biên bản v vi c giao nhận vật chứng, tài sản lập hồi 16 giờ 30 phút ngày 07 tháng 6 năm 2024 gi a Công an huy n Sông ã và Chi c c Thi hành án dân s huy n Sông ã.
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 c a Uỷ Ban Thư ng Vụ Quốc H. Bị cáo Vi Văn S được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 03/7/2024).
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKS huyện Sông Mã; - Trại giam; - TAND tỉnh Sơn La; - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - THAHS; - CCTHADS huyện Sông Mã; - Lưu: Hồ sơ vụ án, án văn. | T.M H ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lô Văn Long |