vanban.org

Bản án 184/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 25/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Tiến Hồng - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THANH HÓA
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 184/2023/HS-ST
Ngày: 25/4/2023

NHÂN DANH [

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ - TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thu Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Mai Thị Tiếp;

Ông Trịnh Xuân Tính.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện VKSND thành phố Thanh Hoá tham gia phiên toà: bà Trịnh Thị Thu Lan- Kiểm sát viên.

- Những người tham gia hỗ trợ tổ chức phiên tòa tại điểm cầu thành phần:

Ông Nguyễn Văn Hiến – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

Ông Nguyễn Văn Quang – Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

Ngày 25 tháng 4 năm 2023, tại điểm cầu Trung Tâm - trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hoá và điểm cầu thành phần – Nhà tạm giữ Công an thành phố Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 204/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 210/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:

Hồ Tiến H, sinh năm 1979, tại Thanh Hóa; nơi thường trú: số nhà 08/146 Trần Hưng Đ, phường Nam N, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hồ Tiến L và bà Thiều Thị M; có vợ là Dư Thị T và 01 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: năm 2012, Công an phường Ba Đình, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/12/2022 đến ngày 04/01/2023 chuyển tạm giam. Hiện nay bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Hồ Hải A, sinh năm 2001.

Địa chỉ: Số nhà 08/146 Trần Hưng Đ, phường Nam N, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 29/12/2022, Tổ tuần tra 282- Công an tỉnh Thanh Hóa phối hợp với Công an phường Trường Thi, thành phố Thanh Hóa làm nhiệm vụ trước số nhà 118 Trường T, phường Trường T, thành phố Thanh Hóa đã tiến hành kiểm tra đối với Hồ Tiến H đang ngồi trên môtô nhãn hiệu YAMAHA Exiciter màu xanh, biển kiểm soát 36B6-81016. Khi bị kiểm tra H đã thả từ tay trái xuống đường 02 gói nilong màu đen, kích thước mỗi gói khoảng (1 x 1,5) cm và vùng bỏ chạy nhưng bị tổ công tác giữ lại. Tổ công tác tiếp tục kiểm tra, phát hiện và thu giữ trong túi áo khoác bên trái của H đang mặc có 08 gói nilong màu đen, bên trong mỗi gói đều là giấy trắng chứa chất bột màu trắng và 01 gói giấy trắng chứa chất một màu trắng, mỗi gói kích thước khoảng (1 x 1,5) cm. H khai nhận đây là 11 gói ma túy loại Heroine, H cất giấu nhằm mục đích để sử dụng. Tổ công tác tuyên bố bắt quả tang đối Hồ Tiến H về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ của H 12.800.000 đồng, một xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Exiciter màu xanh, biển kiểm soát 36B6-81016, một điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5 2020, số IMEI: 863944047347674, bên trong lắp số sim 0333603887.

Về nguồn gốc ma tuý, H khai bản thân là người nghiện ma tuý, nên khoảng 07 giờ ngày 29/12/2022, H nhờ Vũ Viết T - sinh năm 1983, trú tại lô 170 MBQH08 đường 5, phường Nam N, thành phố Thanh Hóa mua hộ cho H 2.000.000 đồng Heroine, H sẽ trả công cho T 300.000 đồng, T đồng ý rồi H dùng xe môtô biển kiểm soát 36B6-81016 chở T đến khu vực trước cổng Bệnh viện đa huyện Hoằng H, tỉnh Thanh Hóa để mua ma túy. T để H đợi trước cổng Bệnh viện còn T cầm tiền đi mua ma túy. T đi cách chỗ H khoảng 200m gặp một nam thanh niên (khoảng 20 tuổi, H không biết người này), sau đó T quay lại chỗ H đưa cho H 11 gói ma túy. H cất số ma túy vào túi áo khoác bên trái của H và đi về. Sau đó H cầm số ma túy đi tìm nơi sử dụng thì bị Công an kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang.

Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp của xe mô tô YAMAHA Exiciter màu xanh, biển kiểm soát 36B6-81016 là của anh Hồ Hải A (con trai bị cáo) và số tiền 12.800.000 đồng là tiền của anh Hồ Hải A nhờ bị cáo trả tiền thực phẩm nên Cơ quan điều tra đã trả lại 12.800.000 đồng và chiếc xe mô tô này cho chủ sở hữu.

Căn cứ lời khai của Hồ Tiến H về việc Vũ Viết T mua hộ ma túy cho H, Cơ quan điều tra đã xác minh, triệu tập lấy lời khai và tiến hành đối chất theo quy định nhưng T không thừa nhận. Ngoài lời khai của H không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh T là người mua hộ ma túy cho H. Do đó, không có căn cứ để xử lý đối với T.

Đối với nam thanh niên khoảng 20 tuổi, H khai thấy T gặp sáng ngày 29/12/2022 ở khu vực gần bệnh viện đa khoa huyện Hoằng H. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được người có đặc điểm như H khai, ngoài lời khai của H không có tài liệu, chứng cứ nào khác vì vậy không có đủ căn cứ để xử lý.

Tại bản kết luận giám định số 242/KL-KTHS ngày 03/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: “Chất bột màu trắng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng là 0,743g, loại Heroine”.

Với nội dung trên, bản cáo trạng số 154/CT-VKS ngày 24/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hoá truy tố bị cáo Hồ Tiến H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ.

Về vật chứng: đề nghị áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy số ma túy thu của bị cáo còn lại sau giám định. Trả lại cho bị cáo một điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5 2020, số IMEI 863944047347674, bên trong gắn kèm sim.

Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung truy tố của cáo trạng và không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa bị cáo khai, khoảng 20 giờ 30 phút ngày 29/12/2022, tại trước số nhà 118 Trường T, phường Trường T, thành phố Thanh Hóa, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,743g Heroine, mục đích để sử dụng thì bị tổ tuần tra 282- Công an tỉnh Thanh Hóa phối hợp với Công an phường Trường Thi, thành phố Thanh Hóa phát hiện, bắt quả tang.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của bị cáo có đủ dấu hiệu cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và khung hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, bị cáo có đủ nhận thức để biết rằng ma túy là chất gây nghiện được nhà nước thống nhất quản lý, nghiêm cấm mọi hành vi phạm tội liên quan đến ma túy, mặt khác hành vi phạm tội của bị cáo còn gây mất trật tự trị an tại địa phương và là một trong những nguyên nhân phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội khác nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, thấy rằng:

Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Nhân thân bị cáo: năm 2012, bị Công an phường Ba Đình, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy”. Tuy nhiên quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, bố mẹ bị cáo là người có công với cách mạng, bố bị cáo được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì, mẹ bị cáo được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như vậy mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.

. Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là người lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Xử lý vật chứng: Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, cấm lưu hành vì vậy cần căn cứ khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma túy này.

Một điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5 2020, số IMEI: 863944047347674, bên trong lắp thẻ sim, là điện thoại bị cáo dùng để sử dụng cá nhân, không dùng vào việc phạm tội vì vậy căn cứ khoản 1, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, trả lại cho bị cáo.

Toàn bộ vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hoá.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14.

Vì các lẽ trên;

[ [ơQUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Hồ Tiến H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Hồ Tiến H 21 ( hai mốt ) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 30/12/2022.

Về vật chứng: - Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong một phong bì của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, có dấu của phòng kỹ thuật hình sự kèm chữ viết của Nguyễn Trần Đăng, Lê Thị Thanh Loan, Lê Minh Tiến.

- Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5 2020, Imel: 863944047347674, điện thoại gắn kèm sim.

Toàn bộ vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa, theo biên bản giao nhận vật chứng số 146/2023/THA ngày 07/4/2023 giữa Công an thành phố Thanh Hóa với Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa.

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ