- Tranh chấp gì? án hình sự — "lê minh được - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Minh Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 184/2023/HS-ST Ngày: 14.8.2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Hoa
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Kim Liên
2. Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Nội Thị Hảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2023, Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 179/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 202/2023/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:
Lê Minh Đ, sinh năm 1995 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 205/68/37 ấp 5, xã Đông Thạnh, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Hoàng (chết) và bà Lê Thị Huệ; bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12.4.2023 cho đến nay; hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ công an huyện Hóc Môn; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Võ Hoàng Thanh P, sinh năm 1985 (vắng mặt)
Địa chỉ: 308B ấp 7, xã Đ, huyện H, Thành phố H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 40 ngày 12/4/2023, tại trước nhà số 205/68/37 ấp 5, xã Đông Thạnh, huyện Hóc Môn, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Hóc Môn trên đường tuần tra phát hiện bắt quả tang Lê Minh Đ đang điều khiển xe máy, biển số 59Y1-485.14 có hành vi cất giấu 05 gói nylong chứa tinh thể không màu (ký hiệu mẫu m) trong túi quần bên phải phía trước đang mặc, Đ khai đó là ma túy nên Công an lập biên bản phạm tội quả tang.
Tại Cơ quan điều tra, Đ khai nhận: Do nghiện ma túy nên khoảng 09 giờ 00 cùng ngày, Đ mua 05 gói ma túy đá với giá 1.000.000 đồng của 01 người thanh niên tên B (không rõ lai lịch) ở khu vực bãi đất trống thuộc ấp 5, xã Đông Thạnh, huyện Hóc Môn, bỏ vào túi quần đang mặc rồi điều khiển xe về nhà nhằm mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang như trên.
Tại kết luận giám định số 3636/KL-KTHS ngày 20/4/2023 của Phòng kỹ thuật Công an TP. Hồ Chí Minh kết luận: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,7260g, loại Methamphetamine.
Vật chứng thu giữ gồm:
+ 01 gói niêm phong ghi vụ 824/2023 bên ngoài có dấu vân tay màu đỏ, chữ ký ghi tên Lê Minh Được, bên trong là ma túy còn lại sau giám định.
+ 01 điện thoại di động hiệu Iphone, là tài sản riêng của Đ, không liên quan đến việc phạm tội.
+ 01 xe gắn máy biển số 50Y1-485.14. Qua xác minh xe thuộc sở hữu của anh Võ Hoàng Thanh P (anh rể của Đ), cho Đ mượn xe để đi công việc, không biết việc Đ dùng vào việc đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra đã trả xe cho anh P.
Tại Bản cáo trạng số 187/CT-VKS-HS ngày 20 tháng 7 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn để xét xử bị cáo Lê Minh Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị tuyên bị cáo Lê Minh Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Minh Đ từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong ghi số vụ 824/2023.
Trả lại 01 điện thoại di động Iphone cho bị cáo Đ.
Bị cáo Lê Minh Đ khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu và xin được hưởng mức án nhẹ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Minh Đ khai nhận: Vào ngày 12/4/2023, bị cáo đã có hành vi tàng trữ 0,7260g ma túy ở thể rắn loại Methamphetamine với mục đích sử dụng thì bị công an bắt quả tang.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các vật chứng cùng các tài liệu thể hiện tại hồ sơ vụ án, phù hợp với Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đã truy tố. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở pháp lý để kết luận bị cáo Lê Minh Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự của Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thừa biết ma túy là chất gây nghiện mang tính độc hại cao, do đó đã bị nhà nước cấm tàng trữ dưới bất kỳ hình thức nào. Bản thân bị cáo bất chấp mọi hậu quả lao vào con đường phạm tội, thực hiện hành vi tàng trữ trái phép ma túy nhằm thỏa mãn nhu cầu cho bản thân. Do đó, cần có mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xem xét về nhân thân, tính chất mức độ và hậu quả của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
Về nhân thân bị cáo Lê Minh Đ: chưa có tiền án, tiền sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là phù hợp.
Tình tiết tăng nặng: Không.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 gói niêm phong ghi số vụ 824/2023 là ma túy ở thể rắn là vật cấm lưu hành, Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone, là tài sản riêng của Đ, không liên quan đến việc phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy cần trả lại bị cáo.
- Đối với 01 xe gắn máy biển số 50Y1-485.14. Qua xác minh xe thuộc sở hữu của anh Võ Hoàng Thanh P (anh rể của Đ), cho Đ mượn xe để đi công việc, không biết việc Đ dùng vào việc đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra đã trả xe cho anh Phong, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
Án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê Minh Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Lê Minh Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn tù được tính từ ngày 12.4.2023.
2. Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong ghi số vụ 824/2023 là ma túy.
Trả lại 01 điện thoại di động Iphone cho bị cáo Lê Minh Đ.
(Vật chứng của vụ án do Chi cục thi hành án dân sự huyện Hóc Môn đang quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 145/QĐ-VKS-HS ngày 17/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn)
3. Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/U TVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí T a án;
Bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND Tp.HCM; - Sở Tư pháp Tp.HCM; - VKSND huyện Hóc Môn; - Cơ quan điều tra công an H. HM; - Chi cục THADS H.HM; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Hoa |