- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh L yêu cầu ly hôn với chị T"
- Tòa quyết gì? Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Hoàng L.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 184/2023/HNGĐ-ST Ngày 08 - 6 - 2023 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Huỳnh Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Duyên Văn Hiền.
Bà Nguyễn Kim Lên.
- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Thêu - Thư ký Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Ngày 08 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 209/2023/TLST-HNGĐ ngày 21/3/2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 170/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/4/2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Trần Hoàng L, sinh năm 1982.
2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thùy T, sinh năm 1981.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Lê Văn K, sinh năm 1989.
Cùng địa chỉ: Ấp T, xã L, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Ngân hàng C. (Gọi tắt là Ngân hàng).
Địa chỉ trụ sở: Số 169, phố L, H, H, Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quyết T – Chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn V – Chức vụ: Giám đốc phòng giao dịch Ngân hàng C huyện T. (Theo Quyết định ủy quyền số: 300/QĐ-NHCS ngày 19/9/2019 của Người đại diện theo pháp luật của Ngân hàng C).
Người được ông V ủy quyền lại: Ông Trịnh Thanh N – Chức vụ: Phó Giám đốc phòng giao dịch Ngân hàng C huyện T. (Theo Giấy ủy quyền số: 199/GUQ-NHCS ngày 09/11/2020).
Địa chỉ: Khóm 9, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Ông N có mặt. Anh L, anh K có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Chị T vắng mặt không rõ lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 21/3/2023 và lời trình bày của nguyên đơn có tại hồ sơ, thể hiện: Vào năm 2005 anh L và chị T tự nguyện sống chung với nhau, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T vào ngày 13/5/2013 (Giấy chứng nhận kết hôn số: 54/2013). Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung tên Trần Trà M, sinh 05/12/2006 và Trần Hoàng Q, sinh 14/12/2015 (cháu M chị T đang nuôi dạy, cháu Q anh L đang nuôi dạy). Về tài sản chung không có. Về nợ chung nợ Ngân hàng C 20.000.000 đồng, nợ anh Lê Văn K 01 chỉ vàng 24k. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không phù hợp, dẫn đến vợ chồng bất đồng quan điểm sống, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, vợ chồng không sống chung đã hơn 01 năm, nhưng không có thiện chí hàn gắn trở lại.
Anh L yêu cầu ly hôn với chị T. Về con chung yêu cầu được nuôi cháu Q, đồng ý giao cho chị T nuôi dạy cháu M, không bên nào phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Về tài sản chung không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung anh xác định sẽ tự thỏa thuận với các chủ nợ, nếu trường hợp có tranh chấp các chủ nợ có yêu cầu thì sẽ xử lý sau.
- Đối với bị đơn: Tòa án đã triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và hai lần để xét xử nhưng đều vắng mặt không rõ lý do, nên không ghi nhận được ý kiến. Đồng thời, quá trình giải quyết vụ án bị đơn cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì phản đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Lời trình bày của người đại diện cho Ngân hàng tại phiên tòa, thể hiện: Khoản nợ vay hiện nay vẫn còn đang thực hiện theo hợp đồng. Ngân hàng không có yêu cầu gì trong vụ án này. Trường hợp sau này có phát sinh tranh chấp thì sẽ yêu cầu khởi kiện bằng vụ án khác.
- Tại văn bản ngày 20/4/2023 của anh Lê Văn K có tại hồ sơ, thể hiện: Ông Trần Hoàng L và bà Nguyễn Thùy T có nợ anh K 01 chỉ vàng 24k, anh K không có yêu cầu gì trong vụ án.
- Ý kiến và nguyện vọng của con chưa thành niên có tại hồ sơ, thể hiện: Cháu Trần Hoàng Q có nguyện vọng được sống với anh L. Đối với cháu Trần Trà M quá trình giải quyết vụ án Tòa án không ghi nhận được ý kiến và nguyện vọng.
Từ những nội dung vụ án thể hiện;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Xét về quyền khởi kiện, quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Nguyên đơn thực hiện quyền khởi kiện bị đơn về việc yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con và bị đơn có nơi cư trú tại huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau nên Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết vụ án dân sự “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét về thủ tục: Chị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không rõ lý do; anh L và anh K có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt họ.
Xét yêu cầu và ý kiến của đương sự:
Về yêu cầu ly hôn:
Mối quan hệ hôn nhân giữa anh L và chị T được xác lập trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, nên mối quan hệ hôn nhân là hợp pháp.
Xét thấy thực tế hiện nay anh L và chị T đã không sống chung với nhau đã hơn 01 năm, anh L xác định cuộc sống vợ chồng không thể hàn gắn được, quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập chị T hai lần để tham gia hòa giải, nhưng chị T đều không đến, anh L cương quyết ly hôn với chị T, nên có căn cứ xác định được anh L và chị T không còn quan tâm gì đối với mối quan hệ hôn nhân này và giữa đôi bên đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng với nhau, nên dẫn đến các hệ lụy nêu trên, nếu tiếp tục duy trì mối quan hệ hôn nhân về sau thì sẽ không đảm bảo hạnh phúc và trái với các nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình hiện nay, nên cần chấp nhận cho anh L được ly hôn với chị T là phù hợp với Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình. (Giấy chứng nhận kết hôn số: 54/2013 ngày 13/5/2013 của Ủy ban nhân dân thị trấn T hết hiệu lực kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật).
Về con chung:
Về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn: Hội đồng xét xử xét thấy anh L và chị T không có thỏa thuận người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Các cháu Trần Hoàng Q và Trần Trà M đã từ đủ 07 tuổi trở lên và sau khi ghi nhận ý kiến thì cháu Q có nguyện vọng được sống với anh L, đối với cháu M Tòa án không ghi nhận được nguyện vọng và thực tế cháu đang sống với chị T, và anh cũng đồng ý giao cho chị T nuôi dạy, anh L và chị T không thuộc trường hợp không đủ điều kiện để trực tiếp nuôi dạy con, do đó cần giao cháu Q cho anh L tiếp tục trực tiếp nuôi dạy và giao cháu M cho chị T tiếp tục trực tiếp nuôi dạy là phù hợp với khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Anh L, chị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; anh L, chị T có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống với anh L, chị T; nếu anh L, chị T lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì anh L, chị T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 82, khoản 2 Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định của pháp luật.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: Anh L không yêu cầu cấp dưỡng cho con, xét thấy đây là sự tự nguyện của anh L, nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với chị T Tòa án không ghi nhận được việc có yêu cầu cấp dưỡng cho con hay không, anh L không tự nguyện cấp dưỡng cho con, xét thấy giữa anh L và chị T mỗi người có trách nhiệm nuôi dạy một con chung là ngang bằng nghĩa vụ của các bên đối với con chung, nên không buộc anh L phải cấp dưỡng cho cháu M.
Về tài sản chung: Anh L cho rằng tài sản chung không có, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án không ghi nhận được ý kiến của chị T về vấn đề tài sản chung, nên không có căn cứ làm rõ và xem xét phần tài sản chung giữa anh L và chị T. Do đó, cần tách phần tài sản chung ra, trường hợp sau này giữa các đương sự có tranh chấp và có yêu cầu thì sẽ giải quyết bằng vụ kiện khác.
Về thực hiện nghĩa vụ về tài sản đối với người khác: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã đưa Ngân hàng và anh Lê Văn K vào tham gia tố tụng. Nhưng suốt quá trình giải quyết vụ án các đương sự này không có yêu cầu gì trong vụ án này, nên không có cơ sở để xem xét đối với các khoản nợ theo anh L trình bày trong vụ án này theo quy định tại Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, trường hợp sau này giữa các bên có tranh chấp và có yêu cầu thì sẽ giải quyết bằng vụ án khác.
Xét về án phí dân sự sơ thẩm: Anh L phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Anh L đã dự nộp tiền tạm ứng án phí trước tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau được chuyển thu đối trừ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 5, Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Hoàng L.
- Về hôn nhân: Cho anh Trần Hoàng L ly hôn với chị Nguyễn Thùy T.
Giấy chứng nhận kết hôn số: 54/2013 ngày 13/5/2013 của Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau hết hiệu lực kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung:
+ Về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn: Giao cho anh Trần Hoàng L trực tiếp nuôi dạy cháu Trần Hoàng Q, sinh 14/12/2015; giao cho chị Nguyễn Thùy T trực tiếp nuôi dạy cháu Trần Trà M, sinh 05/12/2006. Anh L, chị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; anh L, chị T có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống với anh L, chị T; nếu anh L, chị T lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì anh L, chị T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định của pháp luật.
+ Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: Anh L, chị T không phải cấp dưỡng cho con.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Anh Trần Hoàng L phải nộp án phí ly hôn là 300.000 đồng, anh Trần Hoàng L đã dự nộp tạm ứng án phí trước 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0006411 ngày 21/3/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau nay được chuyển thu đối trừ.
3. Quyền kháng cáo: Ngân hàng có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự khác có quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau (gửi mail); - VKSND huyện Trần Văn Thời; - Chi cục THADS huyện Trần Văn Thời; - UBND xã L; - UBND thị trấn T; - Đương sự; - Lưu HSVA, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (ĐÃ KÝ) Trương Huỳnh Hải |