vanban.org

Bản án 184/2023/DSPT — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 26/09/2023 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/09/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Trần Thị Ngọc T - Nguyễn Thị Kim L"
  • Căn cứ chính? Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 19 Nghị quyết số 02/2020/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 228 Bộ luật Tố t ng dân s
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈN B R – V N T U

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 184/2023/DSPT
Ngày: 26-9-2023
“V/v Tranh chấp hợp đồng vay
tài sản”

TÒ N N ÂN DÂN TỈN B R – V N T U

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quang

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Minh Châu

Bà Đào Thị Huệ

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà y – Th ký Tòa án nhân dân t nh Bà Rịa – ng Tàu

- Đ i di n Vi n ki m sát nh n d n t nh Bà a – V ng Tàu: Bà Bùi Thị Doan - Kiểm sát viên

Ngày 26-9-2023, t i Tr s Tòa án nhân dân t nh Bà Rịa – ng Tàu xét xử phúc thẩm công khai v án th lý số: 136/2023/TLPT-DS ngày 05 tháng 7 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân s s thẩm số 12/2023/DS-ST ngày 26 tháng 4 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện L bị kháng cáo.

Theo các quyết định: Quyết định đ a v án ra xét xử số 177/2023/QĐ-PT ngày 04-8-2023; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 190/2023/QĐ-PT ngày 30-8-2023; Quyết định thay đổi ng ời tiến hành tố t ng số 140/2023/QĐ-TA nagyf 30-8-2023 giữa các đ ng s :

Nguyên đơn: Bà Trần Thị Ngọc T, sinh năm 1978 (vắng mặt).

Địa ch : T tổ E, ấp T, xã P, huyện L, t nh Bà Rịa - ng Tàu.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị Ngọc T: Bà Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1979 (có mặt). Địa ch : Số B đ ờng P, Ph ờng G, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1974 và ông Nguyễn N, sinh năm 1970 (đều vắng mặt). Cùng địa ch : A tổ A, ấp P, xã P, huyện L, t nh Bà Rịa - ng Tàu.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Kim L: Bà Lâm Thị Bích L1, sinh năm 1991 (có mặt). Địa ch : G T, ph ờng P, thành phố B, t nh Bà Rịa - V ng Tàu. Ng ời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà L: Ông Nguyễn Thái H1 – ăn phòng Luật s Hoàng Trung C thuộc Đoàn Luật s t nh B (có mặt)

Ng ời kháng cáo: Bị đ n bà Nguyễn Thị Kim L.

NỘI DUN VỤ N:

1. Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị Kim là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Bà Trần Thị Ngọc T và vợ chồng bà Nguyễn Thị Kim L, ông Nguyễn N có mối quan hệ quen biết làm ăn qua l i với nhau ợ chồng bà L, ông N nhiều lần vay tiền bà T, c thể nh sau:

- Ngày 01/03/2015, bà T cho bà L vay 350 000 000đ để bà T đ ợc làm “Đầu nậu” cho cặp ghe B 92787 TS và B 92433 TS của vợ chồng bà L.

- Ngày 21/11/2016, bà T cho bà L vay 300 000 000đ để bà T đ ợc làm “Đầu nậu” cho cặp ghe B 92616 và B 92196 TS của vợ chồng bà L.

- Cùng ngày 21/11/2016, bà L nhờ bà T vay giúp 200 000 000đ để kéo ghe lên sửa chữa

- Ngày 03/02/2021, bà L có nhờ bà T vay dùm 100 000 000đ để cho ghe thay máy.

Sau khi vay, bà L ông N đã trả cho bà T 2 khoản, gồm: Ngày 16/11/2016 trả 50 000 000đ và ngày 27/03/2019 trả 100 000 000đ

Tổng số tiền gốc vợ chồng bà L, ông N hiện t i còn nợ của bà T là 800 000 000đ

Ngoài ra, căn cứ chứng từ tính sổ thì bà L có ký nhận còn nợ bà T 146 010 000đ vào ngày 24/01/2022 Nguồn gốc số tiền này là tiền bà L phải chi trả tiền ứng chi phí cho ghe của vợ chồng bà L ông N và các cổ đông tr ớc khi đi đánh bắt hải sản Theo bà T đ ợc biết thì tiền ứng chi phí cho ghe đi đánh bắt hải sản các cổ đông ghe của bà L đã giao cho bà L để đ a về cho bà T nh ng bà L không giao trả cho bà T, nên bà L mới ký nhận nợ

Nh vậy, tổng số tiền mà vợ chồng ông N bà L còn thiếu của bà T là 946 010 000đ Bà T nhiều lần liên hệ vợ chồng bà L ông N yêu cầu thanh toán dứt điểm nợ cho bà T nh ng bị từ chối trả nợ và né tránh

T i phiên tòa, bà T rút yêu cầu kh i kiện đối với “yêu cầu tính lãi suất chậm trả trên số tiền gốc 800 000 00đ theo quy định pháp luật”

Nay bà T yêu cầu bà L và ông N phải hoàn trả cho bà T tổng số tiền là 946 010 000đ, trong đó nợ gốc là 800 000 000đ và 146 010 000đ tiền “Đầu nậu”

2. Theo bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, bị đơn bà Nguyễn Thị Kim L và ông Nguyễn Tuấn đại diện theo ủy quyền của bà L trình bày:

Bà Nguyễn Thị Kim L và ông Nguyễn N là vợ chồng hợp pháp

Bà T có quan hệ làm “Đầu nậu” trên 4 Tàu cá (B -92787-TS, BV-92433-TS và BV-92196-TS và BV-92616-TS) của vợ chồng bà L ông N lâu năm

Bà L có vay tiền bà T, c thể nh sau:

- Lần 1: Theo giấy ghi nhận nợ ghi “11/1/AL 2015 1/3/2015 DL” thì: Ngày 01/3/2015 bà L có m ợn của bà T 350 000 000đ để bà T đ ợc làm “Đầu nậu” của 2 Tàu cá có số đăng ký là B -92787-TS và BV-92433-TS của vợ chồng bà L. Bà L đã nhận đủ tiền mặt t i nhà T (không có s có mặt của N). Bà L có hẹn đến cuối năm 2016 trả bớt cho bà T 100 000 000đ Thời h n m ợn là khi nào vợ chồng bà L ngh làm ghe thì bà L trả l i tiền m ợn cho bà T Tuy nhiên đến ngày 16/11/2016 bà L ch trả đ ợc cho bà T 50 000 000đ Đến nay theo giấy ghi nhận nợ này thì bà L còn nợ bà T 300 000 000đ M c đích m ợn 350 000 000đ là để giữ chân bà T bán “Đầu nậu” Tất cả chữ viết trong giấy ghi nhận nợ này là do bà T viết; còn chữ “ng ời nhận” và chữ ký và chữ viết “Nguyễn Thị Kim L” là do bà L ký và viết

- Lần 2: Theo giấy ghi nhận nợ ghi “21/11/16 T cho chị L m ợn 300 000 000 bán cá ghe mới ay dùm chị L 200 000 000 đ” thì: Ngày 21/01/2016, bà L có m ợn của bà T 300 000 000đ để bà T đ ợc làm “Đầu nậu” của 2 Tàu cá có Số đăng ký là B -92196-TS và BV-92616-TS của vợ chồng bà L ông N. Và bà L có vay của bà T 200 000 000đ (bà T vay dùm bà L và đ a cho bà L vay l i, chứ bà L không biết ng ời cho bà T vay) với lãi suất là 1,4%/tháng (2 800 000đ/1 tháng tiền lãi), thời h n thỏa thuận vay 200 000 000đ là khi nào bà L có thì trả Bà L đã nhận đủ 500 000 000đ tiền mặt t i nhà T (không có s tham gia của ông N) Thời h n m ợn 300 000 000đ là khi nào vợ chồng bà L ngh làm ghe thì bà L trả l i tiền m ợn cho bà T Tất cả chữ viết trong giấy này là của bà T, chữ ký và chữ “Nguyễn Thị Kim L (nhận)” trong giấy này là bà L ký và viết Ngày 27/3/2019 bà L trả cho bà T 100 000 000đ tiền gốc vay Đến nay theo giấy ghi nhận nợ này thì bà L còn nợ bà T 300 000 000đ tiền m ợn và 100 000 000đ tiền gốc vay M c đích m ợn 300 000 000đ là ch để giữ chân bà T bán “Đầu nậu”

- Lần 3: Ngày 3/2/2021, bà L vay thêm của bà T 100 000 000đ (trong giấy ghi nhận nợ có ghi chữ “m ợn” nh ng th c tế bà L có trả lãi của khoản tiền này), bà L đã nhận đủ 100 000 000đ tiền mặt t i nhà bà T Nh vậy từ ngày này thì tổng tiền gốc bà L vay của bà T là 200 000 000đ, với lãi suất là 1,25%/tháng

Bà L xác định tổng 3 lần gồm m ợn (để bà T làm “Đầu nậu” trên 4 Tàu cá nêu trên của vợ chồng bà L) và tiền vay thì hiện nay bà L còn nợ bà T 600 000 000đ tiền m ợn (gốc) và 200 000 000đ tiền vay (gốc), lãi của tiền vay bà L đã trả đủ từ ngày vay đến ngày 28/11/2022 Tổng số tiền gốc bà L còn nợ bà T là 800 000 000đ

* Đối với yêu cầu kh i kiện của bà T đòi số tiền 146 010 000đ Bà L có ý kiến nh sau:

Đối với tờ giấy ghi nhận nợ ghi “24/1/2022 chốt l i 2021 với cloan …” thì toàn bộ chữ viết trong giấy là chữ của bà T Riêng chữ “L nhận” trong giấy này là chữ của bà L. Bà L giải thích nội dung của tờ giấy này nh sau:

ào thời điểm dịch bệnh Covid 2019 đang bùng phát m nh, t nh Bà Rịa –

ng Tàu đang bị áp d ng Ch thị 16, không cho ng ời dân ra đ ờng C thể là từ tháng 7/2021 âm lịch đến giữa tháng 12/2021 âm lịch, cả 4 Tàu cá nêu trên của vợ chồng bà L ông N đ ợc ra khu v c biển của t nh Bình Thuận ho t động Sau khi đánh bắt vào thì 4 Tàu cá của vợ chồng bà L cập “Cảng Bích Thanh” thuộc thành phố P, t nh Bình Thuận để bán toàn bộ hải sản khai thác đ ợc trong thời gian này cho Công ty TNHH B. Nên sau khi bà L bán hải sản cho Công ty TNHH B thì bà L đã đem “Sổ bán hải sản của 4 Tàu cá cho Công ty TNHH B” cho bà T để bà T tính tiền lời “Đầu nậu” trên 4 Tàu cá này C thể ngày 24/01/2022, bà T tính ra đ ợc tiền “Đầu nậu” của cặp Tàu B -92787-TS và BV-92433-TS là 69 226 000đ, tiền “Đầu nậu” của cặp Tàu BV-92196-TS và BV-92616-TS là 76 784 000đ, tổng cộng tiền “Đầu nậu” là 146 010 000đ) à cùng ngày 24/01/2022 bà L chốt với bà T số tiền “Đầu nậu” mà bà T t tính này cộng với 2 khoản tiền bà L mua nhớt ch a trả là 23 362 000đ và 11 892 000đ Nên bà T ghi “ngày 24/01/2022 tính sổ (chị L nợ l i) là 181 264 000 đồng” và bà L ghi “L nhận” Sau đó Bà L đã trả đủ 2 khoản tiền nhớt nên bà T xác nhận bên d ới tờ giấy là bà L còn nợ tiền “Nậu” là 146 010 000đ Mặc dù bà T t tính tiền “Đầu nậu” nh ng bà L c ng đồng ý trả cho bà T 2 lần tổng cộng là 50 000 000đ (lần 1 bà L chuyển khoản cho bà T 20 000 000đ ngày 17/8/2022, lần 2 bà L chuyển khoản cho bà T 30 000 000đ ngày 24/9/2022), do đó bà L ch còn nợ l i bà T 96 010 000đ tiền “Đầu nậu”

ợ chồng bà L kết hôn từ năm 1993 Bà L ph trách quản lý sổ sách, tiền b c của 4 Tàu cá và tất cả việc làm ăn, kinh tế của gia đình, ông N ph trách việc Tàu cá và đi biển

Bà L xác nhận hiện nay bà L còn nợ bà T số tiền m ợn gốc tổng cộng là 800 000 000đ, nh ng vì hoàn cảnh khó khăn bà L xin đ ợc trả tr ớc 200 000 000đ, còn l i 600 000 000đ đ ợc trả dần và xin đ ợc miễn tiền lãi Đối với tiền “Đầu nậu” thì bà L ch còn nợ l i bà T 96 010 000đ, bà L c ng xin đ ợc trả dần số tiền này.

Ông N chồng bà L không vay của bà T nên bà L xin đ ợc đ a ông N ra ngoài v án để ông N lo làm ăn ph bà L trả tiền

3. Theo bản tự khai, biên bản lấy lời khai, bị đơn ông Nguyễn N trình bày:

Ông N và bà L kết hôn vào năm 1993 ợ chồng ông N bà L có quan hệ làm “Đầu nậu” với bà T Tất cả chi phí chi tiêu trong gia đình thì bà L quản lý tiền của vợ chồng, ông N ch việc đi biển

Năm 2015 bà T là “Đầu nậu” của 2 Tàu cá có số đăng ký là B -92787-TS và BV-92433-TS của vợ chồng ông N Khoảng cuối năm 2016, đầu năm 2017 thì bà T là “Đầu nậu” của 2 Tàu cá có số đăng ký là B -92196-TS và BV-92616-TS của vợ chồng ông N.

Ông N ch biết “Đầu nậu” là bà T cho chủ ghe của 4 Tàu cá số đăng ký là BV-92787-TS, BV-92433-TS và BV-92196-TS, BV-92616-TS là bà L m ợn tiền giữ chân để bà T đ ợc làm “Đầu nậu” trên 4 Tàu cá này Còn c thể tiền m ợn thế nào thì ông N không rõ.

iệc vay tiền giữa bà L và bà T, ông N không rõ, không liên quan Đó là khoản vay của bà L nên ông N không đồng ý yêu cầu kh i kiện của bà T. Ông N đề nghị Tòa án gỡ phong tỏa 2 Tàu cá đứng tên ông N, vì 2 Tàu cá này còn có các phần hùn khác

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2023/DS-ST ngày 26-4-2023 của Toà án nhân dân huyện L đã căn cứ Điều 5, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố t ng dân s ; Điều 463, 466 và 468 của Bộ luật Dân s ; điểm a Khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Điều 19 Nghị quyết số 02/2020/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, tuyên xử:

1 Chấp nhận một phần yêu cầu kh i kiện của bà T, buộc vợ chồng bà L ông N phải trả cho bà T 896 010 000đ, trong đó gồm 800 000 000đ tiền gốc và 96 010 000đ tiền “Đầu nậu” theo các giấy ghi nhận nợ ghi “11/1/AL 2015 1/3/2015 DL”, “21/11/16”, “3/2/2021” và “24/1/22 chốt l i 2021 với cloan”

2 Không chấp nhận một phần yêu cầu kh i kiện của bà T về việc buộc bà vợ chồng bà L ông N phải trả cho bà T 50 000 000đ tiền “Đầu nậu”

Ngoài ra án s thẩm còn tuyên về lãi suất chậm trả; án phí; quyền kháng cáo và thời h n thi hành bản án theo quy định

Ngày 10-5-2023, bị đ n bà L có đ n kháng cáo Bản án dân s s thẩm số 12/2023/DS-ST ngày 26-4-2023 của Toà án nhân dân huyện L về trách nhiệm phải trả nợ với nội dung: Yêu cầu Tòa án phúc thẩm sửa bản án s thẩm là buộc ông N bà L phải trả cho bà T 200 000 000đ và bà L phải trả cho bà T số tiền 600 000 000đ cộng với 96 010 000đ tiền đầu nậu

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bà L1 đ i diện theo ủy quyền của vợ chồng bà L ông N trình bày và có quan điểm: Quá trình giải quyết cấp s thẩm không công khai chứng cứ là vi ph m tố t ng nên đề nghị hủy toàn bộ bản án s thẩm; đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét hủy bỏ biện pháp khẩn cấp t m thời để t o điều kiện cho vợ chồng bà L ông N làm ăn có điều kiện trả nợ

- Bà H đ i diện theo ủy quyền của bà T trình bày và có quan điểm: Trong tất cả các buổi làm việc đều có Sổ cái ghi nhận công nợ để công khai chứng cứ; bà L đều thừa nhận số nợ đối với bà T; và t i phiên tòa phúc thẩm bà H c ng mang theo sổ cái ghi nhận công nợ với bà L để đối chứng; mặc dù khi giao dịch ch có một mình bà L nh ng bà L với ông N là vợ chồng và trong quá trình giải quyết thì đều thể hiện số tiền bà L giao dịch với bà T là để làm kinh tế chung gia đình, do đó đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án s thẩm

- Quan điểm của Đ i diện iện kiểm sát nhân dân t nh Bà Rịa – ng Tàu:

[1] iệc tuân thủ pháp luật: Những ng ời tiến hành tố t ng và những ng ời tham gia tố t ng th c hiện đúng quy định của pháp luật

[2] Quan điểm về tố t ng và nội dung v án:

ề tố t ng: Bà L ch kháng cáo về t cách ng ời phải trả nợ chứ không kháng cáo về số nợ phải trả; về việc tiếp cận công khai chứng cứ Tòa án cấp s thẩm, mặc dù trong hồ s không sao l c chứng cứ l u vào trong hồ s nh ng trong các buổi làm việc thì bà L có mặt, có bản chính công nợ để công khai chứng cứ Đồng thời t i phiên tòa phúc thẩm thì bà H đ i diện theo ủy quyền của bà T c ng có sổ cái ghi nhận công nợ với bà L, do đó sai sót của Tòa án cấp s thẩm là không nghiêm trọng nh ng cần rút kinh nghiệm

ề nội dung kháng cáo: Bà L và ông N là vợ chồng; khoản nợ đối với bà T là trong thời kỳ hôn nhân; bà L xác nhận nợ là để làm đầu nậu cho 02 cặp ghe của vợ chồng bà L ông N; ông N biết việc bà L vay nợ và thừa nhận việc vay nợ để ph c v việc làm ăn kinh tế gia đình do đó đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bà L, giữ nguyên bản án s thẩm

Đối với việc bà L đề nghị hủy bỏ biện pháp khẩn cấp t m thời là không có căn cứ vì đây là thủ t c độc lập, quá trình áp d ng biện pháp khẩn cấp t m thời không có kiếu n i nên đề nghị tiếp t c duy trì để đảm bảo thi hành cho bà T.

N ẬN Đ N CỦ TÒ N:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ s v án đã đ ợc thẩm tra t i phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh t ng t i phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định về v án nh sau:

[1]. Về nội dung kháng cáo của bà L:

[1.1]. Bà L kháng cáo về tư cách người có nghĩa vụ phải trả nợ cho bà T:

Căn cứ vào nội dung đ n kháng cáo của bà L đề ngày 10-5-2023, thì bà L không kháng cáo về tổng số tiền phải có nghĩa v trả cho bà T, mà bà L ch kháng cáo về t cách ng ời có nghĩa v trả nợ cho bà T.

Theo bà L thì bà L là ng ời tr c tiếp vay và nhận tiền của bà T, ông N chồng bà L không tham gia nên ông N không phải có trách nhiệm chung với bà L trong việc trả nợ cho bà T Xét thấy, kháng cáo của bà L về t cách ng ời có nghĩa v trả nợ cho bà T là không có căn cứ vì các lý do:

- Bà L và ông N là vợ chồng; khoản nợ đối với bà T là trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng bà L ông N.

- Bà L xác nhận các khoản nợ đối với bà T gồm: Tiền “giữ chân” để đ ợc thu mua hải sản là 600 000 000đ; tiền “đầu t tổn” làm “Đầu nậu” (tức là tiền bà T bán dầu, thiết bị vật t , các lo i nhu yếu phẩm…cho vợ chồng bà L ông N để ph c v cho các cặp ghe của vợ chồng bà L ông N đi đánh bắt hải sản) là 96 010 000đ; tiền cho vay là 200 000 000đ, tất cả các khoản tiền này là đều ph c v làm ăn kinh tế gia đình

- Ông N biết việc bà L giao dịch với bà T và thừa nhận tất cả các việc giao dịch của bà L đối với bà T c ng là để ph c v việc làm ăn kinh tế chung gia đình

- Mặt khác căn cứ vào quyết định của bản án s thẩm đã tuyên thì vợ chồng bà L ông N phải có nghĩa v trả nợ cho bà T, tuy nhiên sau khi xét xử s thẩm thì ch có một mình bà L kháng cáo về t cách ng ời có nghĩa v trả nợ cho bà T; ông N không kháng cáo việc mình phải có chung trách nhiệm với bà L trong việc trả nợ cho bà T, do đó việc bà L kháng cáo để lo i trừ ông N ra khỏi nghĩa v chung phải có cùng trách nhiệm trả nợ cho bà T là không có căn cứ

[1.2]. Yêu cầu của bà L1 là người đại diện theo ủy quyền của bà L đề nghị hủy việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời tại phiên tòa phúc thẩm:

Quá trình giải quyết s thẩm, bà T đã có yêu cầu và đã đ ợc Tòa án nhân dân huyện L áp d ng biện pháp khẩn cấp t m thời phong tỏa tài sản của vợ chồng bà L ông N đối với Tàu B - 92196-TS và Tàu BV-92787-TS để đảm bảo nghĩa v trả nợ của vợ chồng bà L ông N đối với bà T theo Quyết định áp d ng biện pháp khẩn cấp t m thời số 02/2023/QĐ-BPKCTT ngày 02/02/2023 Xét thấy, đây là thủ t c độc lập, quá trình th c hiện áp d ng biện pháp khẩn cấp t m thời không có khiếu n i nên Hội đồng xét xử phúc thẩm thống nhất với quan điểm của Đ i diện iện kiểm sát nhân dân t nh Bà Rịa – ng Tàu không xem xét yêu cầu của bà L1 là ng ời đ i diện theo ủy quyền của bà L đề nghị hủy việc áp d ng biện pháp khẩn cấp t m thời t i phiên tòa phúc thẩm

[2]. Những tồn tại hạn chế của bản án sơ thẩm:

[2.1]. Việc xác định quan hệ tranh chấp:

Bà T kh i kiện vợ chồng bà L ông N để đòi các khoản tiền gồm: T1 “giữ chân” để đ ợc thu mua hải sản; tiền “đầu t tổn” làm “Đầu nậu” (tức là tiền bà T bán dầu, thiết bị vật t , các lo i nhu yếu phẩm…cho vợ chồng bà L ông N để ph c v cho các cặp ghe của vợ chồng bà L ông N đi đánh bắt hải sản); và tiền cho vay, nh ng án s thẩm ch xác định quan hệ tranh chấp trong v án là tranh chấp “hợp đồng vay tài sản” là ch a đầy đủ và không t ng thích Tuy nhiên quá trình giải quyết v án thì bà T và bà L đã thống nhất đ ợc với nhau về tổng số nợ đối với các khoản tiền, gồm tiền “giữ chân”; tiền “đầu t tổn” làm “Đầu nậu” và tiền cho vay, đồng thời bà T đã t nguyện rút yêu cầu buộc vợ chồng bà L ông N phải trả lãi của các số tiền này, do đó mặc dù việc án s thẩm xác định quan hệ tranh chấp để áp d ng điều luật giải quyết là ch a đầy đủ, t ng thích nh ng c ng không ảnh h ng đến nội dung giải quyết v án.

[2.2]. Về chứng cứ và việc công khai chứng cứ:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ s thể hiện, mặc dù quá trình giải quyết Tòa án cấp s thẩm không th c hiện việc sao l c chứng cứ để l u vào hồ s v án là có thiếu sót, tuy nhiên trong các biên bản làm việc đều ghi nhận s có mặt của bà L, và theo bà T trình bày thì khi đi làm việc bà T đều mang theo Sổ cái ghi nhận công nợ của bà T với bà L, do đó bà L và bà T đã thống nhất đ ợc tổng số các khoản nợ với nhau T i phiên tòa phúc thẩm, bà H – đ i diện theo ủy quyền của bà T c ng mang theo Sổ cái ghi nhận công nợ của bà T với bà L để đối chứng với bà L1 là ng ời đ i diện theo ủy quyền của bà L Do đó việc thiếu sót của Tòa án cấp s thẩm không th c hiện việc sao l c chứng cứ để l u vào hồ s v án đã đ ợc khắc ph c t i Tòa án cấp phúc thẩm

[2.3]. Cách tuyên án về lãi suất chậm trả:

Trong phần quyết định của bản án s thẩm đã tuyên “Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 27/4/2023) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015” là ch a phù hợp theo quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm thống nhất cần điều ch nh l i việc tuyên về lãi suất chậm trả theo đúng quy định trong phần quyết định của bản án s thẩm

[2.4]. Về kỹ thuật viết bản án:

Trong m c “Nội dung v án”: Cần tóm tắt nội dung tranh chấp một cách đầy đủ, ngắn gọn, logic, c thể, dễ hiểu về nội dung tranh chấp và yêu cầu của các bên đ ng s đối với nhau, không nên copy toàn bộ lời trình bày của tất cả các bên đ ng s cùng giải thích về thuật ngữ nghề nghiệp, phong t c tập quán… làm cho bản án bị dài dòng, bị lặp đi lặp l i những vấn đề không có ý nghĩa trong việc giải quyết v án

Cách viết số liệu trong bản án: Để đảm bảo tính chính xác và tính có căn cứ trong bản án về số liệu đối với các khoản tiền mà các bên đ ng s yêu cầu và các khoản tiền đ ợc Tòa án chấp nhận thì: Bên c nh việc ghi số liệu bằng “số” thì cần phải ghi thêm số liệu đ ợc viết “bằng chữ” trong ngoặc đ n ngay sau số liệu bằng “số” (ví d : Cách viết số liệu của bản án s thẩm là “896 010 000 đồng”, cần phải đ ợc viết theo đúng quy định là “896 010 000đ (tám trăm chín m i sáu triệu, không trăm m ời ngàn đồng)”

Từ những phân tích nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thống nhất với quan điểm của Đ i diện iện kiểm sát nhân dân t nh Bà Rịa – ng Tàu, không chấp nhận kháng cáo của bà L, giữ nguyên bản án s thẩm; đối với những tồn t i h n chế của bản án s thẩm thì Tòa án cấp s thẩm cần rút kinh nghiệm

Bà L phải chịu án phí dân s phúc thẩm theo quy định

ì các lẽ trên:

QUYẾT Đ N

Áp d ng Khoản 1, Điều 308 Bộ luật Tố t ng dân s , tuyên xử:

Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kim L, giữ nguyên Bản án dân s s thẩm số 12/2023/DS-ST ngày 26-4-2023 của Toà án nhân dân huyện L nh sau:

[1] Chấp nhận một phần yêu cầu kh i kiện của bà Trần Thị Ngọc T.

Buộc vợ chồng bà Nguyễn Thị Kim L và ông Nguyễn N phải có nghĩa v trả cho bà Trần Thị Ngọc T các khoản tiền gồm tiền “giữ chân”; tiền “đầu t tổn” làm “Đầu nậu” và tiền cho vay tổng cộng là 896 010 000đ (tám trăm chín m i sáu triệu, không trăm m ời ngàn đồng), theo các giấy ghi nhận nợ có nội dung “11/1/AL 2015 1/3/2015 DL”, “21/11/16”, “3/2/2021” và “24/1/22 chốt l i 2021 với cloan”

Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, thì hàng tháng bên phải thi hành án phải chịu thêm một khoản tiền lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm thi hành án cho bên được thi hành án.

[2] Không chấp nhận một phần yêu cầu kh i kiện của bà Trần Thị Ngọc T về việc buộc vợ chồng bà Nguyễn Thị Kim L ông Nguyễn N phải trả cho bà Trần Thị Ngọc T 50 000 000đ (năm m i triệu đồng) tiền “Đầu nậu”

[3]. Về án phí:

[3.1]. n phí dân sự sơ thẩm:

- Bà Nguyễn Thị Kim L và ông Nguyễn N phải nộp 38 880 300đ (ba m i tám triệu, tám trăm tám m i ngàn, ba trăm đồng)

- Bà Trần Thị Ngọc T phải nộp 2 500 000đ (hai triệu năm trăm ngàn đồng) nh ng đ ợc khấu trừ vào số tiền t m ứng án phí dân s s thẩm đã nộp 3 650 000đ (ba triệu, sáu trăm năm m i ngàn đồng) theo biên lai thu tiền t m ứng án phí số 0009379 ngày 08/02/2023 của Chi c c Thi hành án dân s huyện L , nh vậy bà Trần Thị Ngọc T còn đ ợc hoàn trả l i 1 150 000đ (một triệu, một trăm năm m i ngàn đồng) tiền t m ứng án phí dân s s thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền t m ứng án phí số 0009379 ngày 08/02/2023 và 18 000 000đ (m ời tám triệu đồng) tiền t m ứng án phí dân s s thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền t m ứng án phí số 0009370 ngày 18/01/2023 đều của Chi c c Thi hành án dân s huyện L .

[3.2]. n phí dân sự phúc thẩm:

Bà Nguyễn Thị Kim L phải nộp 300 000đ (ba trăm ngàn đồng) nh ng đ ợc trừ vào 300 000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền t m ứng án phí dân s phúc thẩm bà Nguyễn Thị Kim L đã nộp theo biên lai thu tiền t m ứng án phí số 0001689 ngày 10/5/2023 của Chi c c Thi hành án dân s huyện L , nh vậy bà Nguyễn Thị Kim L đã nộp xong án phí dân s phúc thẩm

[4] Tiếp t c duy trì biện pháp khẩn cấp t m thời t i Quyết định áp d ng biện pháp khẩn cấp t m thời số 02/2023/QĐ-BPKCTT ngày 02/02/2023 của Tòa án nhân dân huyện L về “Phong tỏa tài sản của ng ời có nghĩa v ”

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Lụât thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu l c pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 26-9-2023).

ỘI ĐỒN XÉT XỬ P ÚC T ẨM

C C T ẨM P N

T ẨM P N – C Ủ TỌ P IÊN TÒ Nguyễn Minh Châu Đào Thị uệ

Nguyễn Thị Quang

Cỡ chữ