- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thành C phạm tội: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Thành C phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 184/2022/HS-ST Ngày: 19-12-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ - TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thu Đông
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thanh Thủy và bà Nguyễn Thị Hiền
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Kim Phượng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố C, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Bà Phạm Bích Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố C, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm C khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 138/2022/TLST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 170/2022/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số: 45/2022/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Lê Thành C - tên gọi khác: không; sinh ngày xx tháng xx năm xxxx, tại thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: tổ B, khu A, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Trung C và bà Nguyễn Thị H; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không.
Bị bắt ngày 23/7/2022, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ C an thành phố C. Có mặt.
- Bị hại: Bà Hoàng Thị P, sinh năm xxxx; nơi cư trú: tổ H, khu P, phường Cẩm T, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Bùi Trường G, sinh năm xxxx; nơi cư trú: tổ B, khu M, phường Cẩm T, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng: Anh Đinh Tiến V và anh Nguyễn Đức A, đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 03 giờ 15 phút ngày 10/01/2022, Lê Thành C (có giấy phép lái xe ô tô hạng B2) điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Ford Ranger biển kiểm soát (BKS)14C-280.xx (hợp đồng thuê xe của anh Bùi Trường G) đi hướng phường Cẩm Thành - phường Cẩm Đông. Khi đi đến đoạn đường Trần Phú thuộc tổ B, khu Lê Hồng P, phường Cẩm T, thành phố C; C không đi đúng phần đường, không chấp hành biển báo hiệu đường bộ, không giảm tốc độ trong khu vực đông dân cư nên đầu và bên phải xe đã đâm vào đuôi và bên trái xe ô tô nhãn hiệu Ford Transit BKS 14B-029.xx của bà Hoàng Thị P đang đỗ sát mép đường bên phải, phía trước cùng chiều tại khu vực có biển đỗ xe, làm xe ô tô Ford Transit BKS 14B-029.xx bị đẩy tiến lên phía trước. Hậu quả: hai xe ô tô bị hư hỏng.
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường thể hiện: mặt đường trải nhựa bằng phẳng, thẳng, rộng 13m, giữa đường có vạch kẻ sơn đứt quãng màu vàng chia đường thành 2 chiều đường. Chiều đường phường Cẩm T - phường Cẩm Đ rộng 6,4m, có vạch kẻ sơn màu trắng quy định khu vực đỗ xe, trên vỉa hè có biển báo số L.408 (nơi đỗ xe) và cột điện gắn đèn chiếu sáng. Các số đo được đo vào mép đường bên phải chiều đường phường Cẩm T - phường Cẩm Đ: vết trượt mài lốp xe dài 1,6m, điểm đầu vết cách mép đường 1,2m, điểm cuối cách mép đường 1,3m; tập hợp mảnh kính vỡ cách mép đường 1,3m, cách điểm cuối vết trượt mài lốp xe là 0,7m về phía phường Cẩm Đ; tập hợp mảnh vỡ nằm rải rác trên mặt đường, điểm gần nhất cách tâm mảnh kính vỡ là 4,3m về phía phường Cẩm Đ. Xe ô tô nhãn hiệu Ford Ranger BKS14C-280.xx đầu xe quay hướng Cẩm Đ, tâm trục bánh sau bên phải cách mép đường 3,55m, tâm trục bánh trước bên phải cách mép đường 3,95m. Xe ô tô nhãn hiệu Ford Transit BKS 14B-029.xx đầu xe quay hướng Cẩm Đông; tâm trục bánh trước và bánh sau bên trái trùng mép đường, cách tâm trục bánh sau bên phải xe ô tô nhãn hiệu Ford Ranger BKS14C-280.xx là 4,55m.
Kết quả khám nghiệm phương tiện thể hiện:
Xe ô tô nhãn hiệu Ford Transit BKS14B-029.xx: kính sườn xe phía sau bên trái, kính cửa xe phía sau bên trái, kính sườn xe phía sau bên phải, cụm đèn tín hiệu phía sau bên trái bị vỡ toàn bộ. Hông xe phía sau bên trái, bánh xe phía sau bên trái, trụ hông xe phía sau bên trái, cánh cửa phía sau bên trái bị tì đẩy, bẹp móp, biến dạng từ sau về trước, cong vênh, lệch so với ban đầu. Ba đờ sốc phía sau, ốp nhựa thân xe phía sau bên trái bị gãy vỡ, tung bật khỏi vị trí ban đầu. Khung xương ba đờ sốc phía sau bị tì đẩy bẹp lõm từ sau về trước, từ dưới lên trên. Sườn xe bên phải bị cong vênh, xô lệch từ trái sang phải.
Xe ô tô nhãn hiệu Ford Ranger BKS14C-280.xx: kính chắn gió phía trước bị nứt vỡ toàn bộ. Mặt nạ phía trước đầu xe, cụm đèn pha phía trước bên phải, ốp nhựa tai xe, ốp nhựa phía dưới ba đờ xốc phía trước, ba đờ xốc phía trước bên phải bị gãy vỡ toàn bộ, nhiều chi tiết tung bật khỏi vị trí ban đầu, lộ chi tiết bên trong, chiều từ ngoài vào trong, từ trước về sau. Nắp cabo, tai xe phía trước bên phải, mép bản lề cánh cửa xe phía trước bên phải, khung xương tai xe phía trước bên phải bị tì đẩy, móp méo, biến dạng toàn bộ, hướng từ trước về sau, từ phải sang trái. Mặt ngoài lazang bánh trước bên phải bị tì đẩy mài trượt xước kim loại. Khung đỡ giàn nóng, giàn điều hòa xe, chân cao su sàn xe phía trước bên phải bị tì đẩy trước về sau so với vị trí ban đầu.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 34 ngày 10/5/2022, của Hội đồng định giá thường xuyên định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C, kết luận: xe ô tô Ford Transit BKS 14B-029.xx bị thiệt hại là 182.381.900 đồng; xe ô tô Ford Ranger BKS14C-280.xx bị thiệt hại là 254.407.300 đồng;
Quá trình điều tra, Lê Thành C khai nhận hành vi phạm tội như trên. C khai thêm: xe ô tô nhãn hiệu Ford Ranger BKS 14C-280.xx do C thuê của anh Bùi Trường G theo hợp đồng hai bên đã ký kết. Khi gây tai nạn, trên xe có chở các anh Nguyễn Đức A và Đinh Tiến V. C điều khiển xe ô tô với tốc độ khoảng 70km/h, khi phát hiện có xe ô tô đi ngược chiều nên đã đánh lái sang phải nhưng không đạp phanh giảm tốc độ, nên đã đâm vào phía sau, phần bên trái xe ô tô BKS 14B-029.xx đang đỗ sát lề đường bên phải phía trước, làm xe ô tô BKS 14B-029.xx tiến lên phía trước, hai xe bị hư hỏng. C thừa nhận nguyên nhân xảy ra tai nạn là do C điều khiển xe không đi đúng phần đường, không chấp hành biển báo hiệu đường bộ, không giảm tốc độ đảm bảo an toàn khu vực đông dân cư. Trước khi lái xe và sau khi xảy ra tai nạn, C không sử dụng rượu bia hoặc chất kích thích.
Trong quá trình điều tra và tại đơn xin xét xử vắng mặt, bị hại bà Hoàng Thị P có quan điểm: sau khi gây tai nạn, bị cáo đã tích cực tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bà tổng số tiền 400.000.000 đồng gồm: tiền thiệt hại xe, tiền chi phí lưu kho bến bãi, chi phí cẩu kéo, thu nhập bị mất; bà không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm gì nữa. Bà yêu cầu được trả lại xe ô tô BKS 14B-029.xx. Về phần hình phạt bà xin cho bị cáo mức án thấp nhất để sớm được trở về đoàn tụ gia đình, thành người C dân tốt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Bùi Trường G có quan điểm: xe ô tô BKS 14C-280.xx của anh cho bị cáo C thuê gây tai nạn. Sau khi tai nạn xảy ra, anh yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 300.000.000 đồng, bao gồm: tiền thiệt hại xe 254.407.300 đồng, chi phí bến bãi trông coi 10.405.000 đồng, chi phí thuê xe cẩu 1.000.000 đồng, tiền mất thu nhập từ ngày 10/01/2022 đến nay là 34.187.700 đồng; anh yêu cầu trả lại xe ô tô BKS 14C-280.xx để lấy phương tiện làm ăn. Ngoài ra, anh không có yêu cầu gì khác.
Người làm chứng anh Đinh Tiến V và anh Nguyễn Đức A trong quá trình điều tra có lời khai thể hiện về thời gian, địa điểm, diễn biến xảy ra vụ tai nạn phù hợp nhau và phù hợp với lời khai nhận của bị cáo Lê Thành C.
Tại bản Cáo trạng số: 148/CT-VKSCP ngày 07/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố C, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Lê Thành C về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm d khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Lê Thành C giữ nguyên quan điểm từ chối luật sư bào chữa, tự bị cáo bảo về quyền, lợi ích hợp pháp cho mình; thành khẩn khai báo và thừa nhận hành vi phạm tội như bản Cáo trạng đã truy tố là đúng người, đúng tội.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 3 Điều 54; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Thành C từ 09 tháng đến 12 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng.
Giao bị cáo Lê Thành C cho Ủy ban nhân dân phường Cẩm T, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Gia đình bị cáo C có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: căn cứ vào khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 584; Điều 589; khoản 2 Điều 601 Bộ luật Dân sự: buộc bị cáo Lê Thành C có trách nhiệm bồi thường cho anh Bùi Trường G số tiền 300.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: trả lại cho bà Hoàng Thị P 01 xe ô tô Ford Transit BKS 14B-029.xx; trả lại cho anh Bùi Trường G 01 xe ô tô Ford Ranger BKS14C-280.xx.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra C an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Thành C thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại; lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng; phù hợp với: biên bản khám nghiệm và sơ đồ hiện trường; các bản ảnh hiện trường; biên bản và bản ảnh khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông; kết luận định giá tài sản, cùng các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, đã được làm rõ tại phiên tòa, đủ cơ sở kết luận: khoảng 03 giờ 15 phút ngày 10/01/2022, tại đường T thuộc tổ B, khu L, phường Cẩm T, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, Lê Thành C điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Ford Ranger BKS 14C-280.56 đi hướng phường Cẩm T - phường Cẩm Đ, do C không chấp hành biển báo hiệu đường bộ, không giảm tốc độ đảm bảo an toàn khu vực đông dân cư nên đã đâm vào xe ô tô nhãn hiệu Ford Transit BKS14B-029.xx của bà Hoàng Thị P đang đỗ sát mép đường bên phải, phía trước cùng chiều tại khu vực được phép đỗ xe, làm xe ô tô nhãn hiệu Ford Transit BKS 14B-029.xx
bị hư hỏng, thiệt hại 182.381.900 đồng.
Lê Thành C có kết quả test, kiểm tra nhanh chất ma túy ngày 11/01/2022 thể hiện dương tính với hợp chất Marijuana (THC) sau một ngày xảy ra tai nạn. Tuy nhiên, đội Cảnh sát giao thông trật tự - C an thành phố C không đưa C đến cơ quan chuyên môn có thẩm quyền để xét nghiệm ma túy, không thu giữ mẫu nước tiểu và mẫu que test của C theo đúng quy định (đã được giải trình tại C văn số 2114b ngày 25/8/2022) và đến ngày 08/3/2022 mới chuyển toàn bộ hồ sơ vụ việc đến Cơ quan CSĐT C an thành phố C, nên không có đủ cơ sở để xử lý.
Hành vi nêu trên của bị cáo Lê Thành C đã vi phạm khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 11 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2018); khoản 5 Điều 5 Thông tư 31 ngày 29/8/2019 của Bộ giao thông Vận tải và phạm vào tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo điểm d khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự, như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố C truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.
Điều 9 Luật giao thông đường bộ quy định:
“1. Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ”.
Điều 5 Thông tư 31/2019/TT - BGTVT quy định các trường hợp phải giảm tốc độ:
“Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm
tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau:
…
5. Qua khu vực có trường học, bệnh viện, bến xe, C trình C cộng tập trung nhiều người; khu vực đông dân cư…;”
Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định:
"1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…
d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.”
Về tính chất, mức độ thực hiện tội phạm:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ, gây thiệt hại về tài sản của người khác; tạo tâm lý bức xúc, lo sợ trong quần chúng nhân dân khi tham gia giao thông, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an trên địa bàn. Do đó, cần xử lý nghiêm mới đảm bảo ý nghĩa giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân bị cáo:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi gây tai nạn bị cáo đã tích cực tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại tài sản cho bị hại, được bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Hội đồng xét xử cũng xem xét bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội; có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên áp dụng Điều 54 - Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội, mà cho cải tạo tại địa phương cũng đủ giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội như quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
Về áp dụng hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 260 của Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm C việc nhất định từ một năm đến năm năm. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: bị hại bà Hoàng Thị P đã nhận bồi thường thiệt hại về tài sản số tiền 400.000.000 đồng, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì nữa nên Hội đồng xét xử không xem xét. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Bùi Trường G yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 300.000.000 đồng (gồm tiền thiệt hại xe, chi phí bến bãi, thuê xe cẩu kéo, tiền mất thu nhập). Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của anh G. Xét thấy sự thỏa thuận về bồi thường của bị cáo và anh G là phù hợp, nên được chấp nhận.
Về vật chứng:
Đối với xe ô tô Ford Transit BKS 14B-029.xx của bà Hoàng Thị P; xe ô tô Ford Ranger BKS14C-280.xx của anh Bùi Trường G - đây là tài sản hợp pháp của bà P, anh G và đều có yêu cầu nhận lại tài sản nên cần trả lại cho bà P, anh G.
Về án phí: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: điểm d khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 3 Điều 54; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự; khoản 4 Điều 328 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Thành C phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".
Xử phạt: Bị cáo Lê Thành C 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Lê Thành C, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Giao bị cáo Lê Thành C cho Ủy ban nhân dân phường Cẩm T, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Gia đình bị cáo C có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 584; Điều 589 khoản 2 Điều 601 Bộ luật Dân sự:
Buộc bị cáo Lê Thành C có trách nhiệm bồi thường cho anh Bùi Trường G số tiền 300.000.000đ (ba trăm triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án), cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Trả lại cho:
- Bà Hoàng Thị P 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu Ford Transit biển kiểm soát 14B-029.34, màu sơn trắng, đã qua sử dụng. Tình trạng xe: xe không có chìa khóa, sườn xe bên trái, bên phải và kính sườn xe bên trái, bên phải bị vỡ, hông bên trái xe phía sau bị cong vênh, ba đờ sốc phía sau bị gãy vỡ, có 02 gương chiếu hậu. Xe có 4 bánh xe (đằng trước 02 bánh, đằng sau 02 bánh).
- Anh Bùi Trường G 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu Ford Ranger, biển kiểm soát 14C-280.56, màu sơn trắng, đã qua sử dụng. Tình trạng xe: xe không có chìa khóa, kính chắn phía trước bị nứt vỡ toàn bộ, nắp ca bô móp méo biến dạng, mặt nạ phía trước bị gãy vỡ toàn bộ, cụm đèn pha phía trước bên phải bị vỡ nát, mép bản lề cánh cửa bên phải bị cong vênh, ba đờ sốc bên phải bị gãy vỡ, có 02 gương chiếu hậu. Xe có 4 bánh xe (đằng trước 02 bánh, đằng sau 02 bánh).
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng số 20/BB-THA, ngày 10/11/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố C, tỉnh Quảng Ninh).
Căn cứ vào Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Lê Thành C phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Án xử C khai, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND thành phố C; - CCTHADS thành phố C; - Bị cáo; bị hại; người có ql, nv lq; - CQCSĐT C an thành phố C; - CQTHAHS C an thành phố C; - Nhà tạm giữ C an Tp C; - Lưu: HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trần Thu Đông |