vanban.org

Bản án 184/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Dương Tuyên án 18/08/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 18/08/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa Bản án số: 10/2022/HS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bình Dương về hình phạt.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy T 09 (chín) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án. Về án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo không phải nộp. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Duy T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa Bản án số: 10/2022/HS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bình Dương về hình phạt.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 344 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 184/2022/HS-PT
Ngày 18-8-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Huy Toàn.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Tài.

Ông Lê Quân Vương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Mai Xuân Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 8 năm 2022, tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 141/2022/TLPT-HS ngày 20 tháng 5 năm 2022, do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Duy T đối với đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 10/2022/HS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bình Dương.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Duy T, sinh năm 1969 tại tỉnh Nam Định; nơi đăng ký thường trú: xóm 5, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 9/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Duy T (chết) và bà Trần Thị T sinh năm 1950; bị cáo có vợ và có 01 người con; tiền sự, tiền án: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08 tháng 3 năm 2021 đến nay có mặt tại phiên toà.

Ngoài ra, còn có 04 người đại diện hợp pháp của bị hại, 01 bị đơn dân sự do không kháng cáo, không bị kháng nghị và không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 20 phút ngày 08/01/2021, Nguyễn Duy T điều khiển xe ô tô (loại xe ô tô tải) biển số 61C-170.35 lưu thông trên đường ĐT 741 theo hướng từ thị trấn P đến xã V, huyện P. Khi đi đến địa phận ấp V, xã V, huyện P, xe ô tô của T bị nổ lốp bên phải thứ hai phía trước nên Thi điều khiển xe ô tô đỗ vào phần đường dành cho xe mô tô trên đường ĐT 741 để thay lốp xe, bánh trước bên phải cách lề đường 0,5m, bánh sau cuối cách lề đường 0,35m, tuy nhiên xe ô tô của T vẫn di chuyển được vì đầu xe ô tô có 02 trục bánh trước. Khi vừa thay lốp xe xong, T lên xe nổ máy thì ngay lúc này có xe mô tô biển số 60K4-6728 do ông Thạch P điều khiển đi cùng chiều từ phía sau tới va chạm vào phía sau thùng xe bên trái xe ô tô biển số 61C-170.35. Tai nạn xảy ra làm ông Thạch P tử vong tại chỗ.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 10/2022/HS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bình Dương đã quyết định:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự,

Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy T 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 01 tháng 4 năm 2022, bị cáo T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu ý kiến: Đơn kháng cáo của bị cáo thực hiện trong thời hạn luật định. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định bị cáo khi dừng xe ô tô tải không đảm bảo an toàn, không sát vào mép đường, không có biển cảnh báo nguy hiểm khi dừng xe vi phạm quy định tại khoản 3 Điều 18 Luật Giao thông đường bộ hậu quả chết người nên có đủ cơ sở xác định hành vi phạm tội của bị cáo như cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ mới. Tuy nhiên, xét thấy sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo đã cùng chủ xe bồi thường tiền mai táng cho gia đình nạn nhân và được gia đình nạn nhân xin giảm nhẹ hình phạt, mức hình phạt mà cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo là nặng, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo. Do đó, có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử giảm mức hình phạt cho bị cáo từ 03 (ba) tháng đến 05 (năm) tháng tù. Bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo, trong vụ án bị cáo là người có lỗi đã gây hậu quả nghiêm trọng nên không đủ điều kiện cho bị cáo hưởng án treo theo Điều 65 của Bộ luật Hình sự và Nghị quyết 02/2018/HĐTP TANDTC. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: mong Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Kháng cáo của bị cáo trong thời hạn luật định, hợp lệ nên vụ án được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bình Dương, hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện việc điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Tòa án cấp sơ thẩm xác định. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: khoảng 18 giờ 20 phút ngày 08 tháng 01 năm 2021, Nguyễn Duy T điều khiển xe ô tô (loại xe ô tô tải) biển số 61C-170.35 lưu thông trên đường ĐT 741 theo hướng từ thị trấn P đến xã V, huyện P, khi điều khiển xe đến địa phận ấp V, xã V, huyện P, xe ô tô của Thi bị nổ lốp nên T điều khiển xe ô tô đỗ vào phần đường dành cho xe mô tô trên đường ĐT 741 để thay lốp xe, khi vừa thay lốp xe xong, T lên xe nổ máy thì ngay lúc này có xe mô tô biển số 60K4-6728 do ông Thạch P điều khiển đi cùng chiều từ phía sau tới va chạm vào phía sau thùng xe bên trái xe ô tô biển số 61C-170.35. Tai nạn xảy ra làm ông Thạch P tử vong tại chỗ. Bị cáo khi dừng xe ô tô tải không đảm bảo an toàn, không sát vào mép đường, không có biển cảnh báo nguy hiểm khi dừng xe là vi phạm quy định tại khoản 3 Điều 18 Luật Giao thông đường bộ hậu quả chết người.

Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, ảnh hưởng xấu đến đến trật tự an toàn giao thông tại địa phương, gây tâm lý hoang mang cho người tham gia giao thông, gây thiệt hại tính mạng của người khác, hành vi của bị cáo cần phải được xét xử nghiêm để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng, nhưng tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ mới. Xét thấy, sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo đã cùng chủ xe bồi thường tiền mai táng cho gia đình nạn nhân và được gia đình nạn nhân xin giảm nhẹ hình phạt, mức hình phạt mà cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo là chưa phù hợp, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo. Do đó, có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.

Bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo, trong vụ tai nạn bị cáo có lỗi gây ra hậu quả chết người, việc không cách ly bị cáo ra ngoài xã hội sẽ gây nguy hiểm và không đáp ứng được công tác phòng, chống tội phạm tại địa phương nên không đủ điều kiện cho bị cáo hưởng án treo theo Điều 65 của Bộ luật Hình sự và Nghị quyết 02/2018/HĐTP TANDTC của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo.

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về việc đề nghị chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo là phù hợp.

Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 344, Điều 345, điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa Bản án số: 10/2022/HS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bình Dương về hình phạt.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự,

Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy T 09 (chín) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

2. Về án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo không phải nộp.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ