vanban.org

Bản án 184/2020/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Dương Tuyên án 18/12/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 18/12/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Anh T; đình chỉ một phần xét x phúc th m về phần trách nhiệm dân s của bị đơn dân s Cổ phần K Bình Dương; không chấp nhận kháng cáo của bị đơn dân s Công ty Cổ phần K Bình Dương đối với phần trách nhiệm dân s còn l i; giữ nguyên quyết đị…

Áp d ng điểm đ khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình s , X ph t bị cáo Hoàng Anh T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Vi ph m quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày bắt thi hành án; khấu trừ thời gian bị t m giữ, t m gia… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Anh T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Anh T; đình chỉ một phần xét x phúc th m về phần trách nhiệm dân s của bị đơn dân s Cổ phần K Bình Dương; không chấp nhận kháng cáo của bị đơn dân s Công ty Cổ phần K Bình Dương đối với phần trách nhiệm dân s còn l i; giữ nguyên quyết đị…
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố t ng hình s; Điều 222 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 356 Bộ luật Tố t ng hình s
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 184/2020/HS-PT
Ngày 04-12-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

h m phán - Ch t a phi n t a: Ông Nguyễn Huỳnh Đức.

Các h m phán: Ông Trần Văn Luông.

Ông Lê Quân Vương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Thùy - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 30 tháng 11 và 04 tháng 12 năm 2020 t i Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương t ph c th m công khai v án hình s ph c th m th lý số: 192/2020/TLPT-HS ngày 01 tháng 10 năm 2020 đối với bị cáo Hoàng Anh Tdo có kháng cáo của bị cáo Hoàng Anh T và đ i diện hợp pháp của bị đơn dân s đối với Bản án hình s sơ th m số: 152/2020/HS-ST ngày 04 tháng 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân thị ã U, tỉnh Bình Dương.

- Bị cáo có kháng cáo:

Hoàng Anh T sinh năm 1983 t i Bình Dương; nơi cư trú: Số nhà 104/11/56, tổ 5, khu phố 7 phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Xuân H và bà Mai Thị Kim H; có vợ tên Võ Thị C m L và 02 người con (lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2020); tiền án: không, tiền s : không; nhân thân: không; bị t m giữ từ ngày 12/01/2020 đến ngày 22/01/2020 được trả t do và áp d ng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư tr cho đến nay (có mặt).

- Bị hại:

1. Bà Nguyễn Thị T sinh năm 1988 (đã chết);

2. Cháu Nguyễn Hà M sinh năm 2013 (đã chết);

3. Cháu Nguyễn Ánh L sinh năm 2016.

Cùng nơi cư tr : Tổ 4 khu phố 4 phường UH, thị ã U tỉnh Bình Dương.

- Người đại diện hợp pháp c a bị hại Nguyễn hị :

1. Bà Nguyễn Thị L sinh năm 1949; nơi cư tr : Thôn B, xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa là mẹ ruột bị h i Nguyễn Thị T. Bà Lát đã ủy quyền cho ông Nguyễn Thanh S (văn bản ủy quyền ngày 11/5/2020).

2. Ông Nguyễn Thanh S sinh năm 1980; nơi cư tr : Tổ 4 khu phố 4 phường UH thị ã U tỉnh Bình Dương, là chồng bị h i Nguyễn Thị T.

3. Cháu Nguyễn Ánh L sinh năm 2016; nơi cư tr : Tổ 4 khu phố 4 phường UH thị ã U tỉnh Bình Dương, là con bị h i Nguyễn Thị T.

Người giám hộ cho cháu Nguyễn Ánh L: Ông Nguyễn Thanh S, là cha ruột (có đơn in t vắng mặt).

- Người đại diện hợp pháp c a bị hại Nguyễn Hà M: Ông Nguyễn Thanh S nơi cư tr : Tổ 4 khu phố 4 phường UH thị ã U tỉnh Bình Dương, là cha ruột (có đơn in t vắng mặt).

- Người bảo vệ quyền lợi cho ông Nguyễn hanh S: Ông Trần Đình D và bà Nguyễn Thị Thanh T là Luật sư Công ty Luật TNHH MTV Y thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

- Bị đơn dân sự: Công ty Cổ phần K Bình Dương; tr sở: Số 26-27, Lô I, đường L phường M thành phố T tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp c a bị đơn dân sự: Ông Đoàn Văn T chức v : Tổng Giám đốc (vắng mặt).

Người đại diện theo y quyền c a bị đơn dân sự: Ông Đặng Quốc V, sinh năm 1991; nơi cư tr : Số 26-27 Lô I đường L phường M thành phố T tỉnh Bình Dương (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ li n quan đến vụ án: Công ty Bảo hiểm V; tr sở: Tầng 16 Tháp A Tòa nhà Vincom số 191 đường Bà Triệu phường Lê Đ i H Quận Hai Bà T thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp c a người có quyền lợi, nghĩa vụ li n quan đến vụ án: Ông Trần Hoài A chức v Tổng Giám đốc (vắng mặt).

Người đại diện theo y quyền c a người có quyền lợi, nghĩa vụ li n quan đến vụ án: Ông Nguyễn Văn H chức v Giám đốc Công ty Bảo hiểm V Bình Dương (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến t i phiên tòa nội dung v án được tóm tắt như sau:

Hoàng Anh T có Giấy ph p lái e h ng C số 740073001752 do Sở giao thông vận tải tỉnh Bình Dương cấp có giá trị đến ngày 13/3/2024. Hoàng Anh T là tài ế lái e thuê cho Công ty Cổ phần K Bình Dương.

Khoảng 08 giờ 45 ph t ngày 12/01/2020, Hoàng Anh T điều khiển e ô tô trộn bê tông biển số 61C - 329.08 lưu thông trên đường Nguyễn Hữu C(ĐH 420 cũ) theo hướng từ ngã ba ông T1 về ngã ba cây ăng Nam U - dốc cây Q. Khi điều khiển e trên đường Nguyễn Hữu C cách ngã ba ông T1 khoảng 300m về hướng ngã ba cây ăng Nam U thuộc khu phố 7 phường UH thị ã U tỉnh Bình Dương thì Hoàng Anh T quan sát nhìn thấy cùng chiều phía trước của e Hoàng Anh T điều khiển có 01 e ô tô tải ben lo i e 05 tấn (không rõ biển số) đang lưu thông. L c này Hoàng Anh T điều khiển e biển số 61C - 329.08 sang hướng bên trái để vượt e ô tô tải ben. Khi chu n bị vượt Hoàng Anh T nhìn thấy có 01 e ô tô tải khác (không rõ biển số) đang lưu thông hướng ngược chiều đến. Thấy vậy nên Hoàng Anh T điều khiển e biển số 61C - 329.08 sang bên phải để vượt e ô tô tải ben lo i 05 tấn (không rõ biển số) đang lưu thông cùng chiều phía trước. Khi đang vượt thì mặt ngoài bánh trước bên phải của e biển số 61C - 329.08 do Hoàng Anh T điều khiển va ch m vào đầu tay cầm bên trái của e mô tô biển số 61E1 - 746.85 do bà Nguyễn Thị T điều khiển chở phía trước là cháu Nguyễn Ánh L (sinh năm 2016) phía sau là cháu Nguyễn Hà M (sinh năm 2013) là con ruột của bà Nguyễn Thị T đang lưu thông cùng chiều song song phía bên phải e ô tô 61C - 329.08 do Hoàng Anh T điều khiển. Hậu quả làm bà Nguyễn Thị T, cháu Nguyễn Hà M Nguyễn Ánh L cùng xe mô tô 61E1 - 746.85 ngã uống đường và bánh e sau bên phải của ô tô biển số 61C - 329.08 cán qua người bà Nguyễn Thị T và cháu Nguyễn Hà M dẫn đến cả hai t vong t i hiện trường. Riêng cháu Nguyễn Ánh L bị thương tích nhẹ và e mô tô biển số 61E1 - 746.85 bị hư hỏng nhẹ. Sau khi gây tai n n Hoàng Anh T đến Công an phường UH đầu th và khai nhận hành vi gây tai n n giao thông chết người. Công an phường UH đã tiến hành lập hồ sơ ban đầu và thu giữ: 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Hoàng Anh T. Đồng thời chuyển hồ sơ cho Công an thị ã U để tiến hành th lý theo th m quyền.

Kết quả khám nghiệm hiện trường v tai n n ác định: Hiện trường v tai n n giao thông đường bộ ảy ra t i đường Nguyễn Hữu C thuộc khu phố 7 phường UH thị ã U tỉnh Bình Dương. Mặt đường Nguyễn Hữu C trải nh a bằng phẳng mặt đường rộng 14 50 m t đường có hai v ch sơn vàng liên t c chia mặt đường thành hai phần bằng nhau mỗi phần đường rộng 07 m t thành hai chiều lưu thông riêng biệt tầm nhìn a không bị vật cản che khuất. Chọn hướng đi từ hướng từ ngã ba ông T1 về ngã ba cây ăng Nam U, dốc cây Qu o làm hướng để đo vẽ hiện trường chọn m p lề phải đường Nguyễn Hữu C theo hướng đã chọn làm m p lề chu n cho hiện trường. Lấy tr điện số 26 trên hành lang đường Nguyễn Hữu C bên lề phải theo hướng đã chọn là vật cố định làm điểm chu n.

Sau tai n n e mô tô biển số 61E1 - 746.85 nằm trên hàng lang đường bộ theo hướng đã chọn e ô tô biển số 61C - 329.08 dừng ở trên đường sát lề theo hướng đã chọn n n nhân Nguyễn Hà M, Nguyễn Thị T nằm dưới lề đường theo hướng đã chọn. Hiện trường có 01 vết s t và 01 vết cày của e mô tô biển số 61E1 - 746.85.

Xe mô tô biển số 61E1 - 746.85 lưu thông theo hướng từ ngã ba ông T1 về ngã ba cây ăng Nam U. Sau tai n n giao thông e ngã về bên trái và nằm trên hành lang bên phải đường Nguyễn Hữu C theo hướng đã chọn đầu e quay chếch ra hướng lề chu n đuôi e quay chếch về hướng tr điện 26 trên hành lang đường Nguyễn Hữu C. Khoảng cách từ tr c trước đo đến m p lề chu n là 0 60 m t. Khoảng cách từ tr c sau đo đến m p lề chu n là 1 50 m t đo đến tr điện số 26 (điểm chu n) là 8 5 m t đo đến tr c sau bên phải e ô tô biển số 61C

- 329.08 là 22,10 mét.

Xe ô tô biển số 61C - 329.08 lưu thông trên đường Nguyễn Hữu C theo hướng từ hướng từ ngã ba ông T1 về ngã ba cây ăng Nam U. Sau tai n n e dừng l i bên phải đường theo hướng lưu thông (đầu e quay về hướng ngã ba cây ăng Nam U đuôi e quay về hướng ngã ba ông T1) tr c bánh trước bên phải nằm trên m p lề chu n khoảng cách từ tr c sau bên phải đo đến m p lề chu n là 0 10 m t khoảng cách từ tr c sau bên phải đến tr c sau e mô tô biển số 61E1 - 746.85 là 22,10 mét.

Sau tai n n n n nhân Nguyễn Hà M nằm dưới lề đường bên phải theo hướng đã chọn tư thế nằm nghiên về bên trái đầu hơi chếch về hướng giữa đường Nguyễn Hữu C chân trái nằm trên m p lề đường đã chọn chân phải nằm dưới lề đường đầu n n nhân đo vào m p lề phải là 0 70 m t tâm giữa hai đầu bàn chân đo vào lề phải là 0 10 m t; khoảng cách đầu vết s t e mô tô biển số 61E1 - 746.85 đo vào đầu n n nhân là 2 20 m t.

Sau tai n n n n nhân Nguyễn Thị T nằm dưới lề đường bên phải theo hướng đã chọn tư thế nằm nghiêng về bên phải đầu n n nhân nằm trên m p lề phải ngay lỗ cống thoát nước bên m p đường theo hướng đã chọn hai chân quay về hướng ngã ba cây ăng Nam U; khoảng cách đầu n n nhân Nguyễn Thị T đo đến đầu n n nhân Nguyễn Hà M là 3 30 m t đo vào điểm cuối vết s t e mô tô biển số 61E1 - 746.85 là 0 60 m t; tâm giữa hai đầu bàn chân đo vào lề phải là 0,80 mét.

Vết cày e mô tô biển số 61E1 - 746.85 nằm trên hành lang đường bộ có hướng từ ngã ba ông T1 về hướng ngã ba cây ăng Nam U dài 12 20 m t đầu vết cài đo ra lề phải là 0 10 m t; đo đến tâm giữa hai đầu bàn chân n n nhân Nguyễn Thị T là 2 20 m t; điểm cuối vết cài là đầu tai cầm trái e mô tô biển số 61E1 - 746.85 bị ngã sau tai n n.

Vết s t e mô tô biển số 61E1 - 746.85 có hướng từ ngã ba ông T1 về hướng ngã ba cây ăng Nam U dài 4 20 m t đầu vết cài đo ra lề phải là 0 40 m t; điểm cuối vết cài đo ra lề phải là 0 30 m t

T i Biên bản khám nghiệm t thi ngày 12/01/2020 và Bản kết luận giám định pháp y t thi số 33/GĐPY ngày 15/01/2020 của Phòng Kỹ thuật hình s Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Nguyên nhân chết của n n nhân Nguyễn Thị T do đa chấn thương chấn thương sọ não vỡ nát ương sọ dập não.

T i Biên bản khám nghiệm t thi ngày 12/01/2020 và Bản kết luận giám định pháp y t thi số 33B/GĐPY ngày 15/01/2020 của Phòng Kỹ thuật hình s Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Nguyên nhân chết của n n nhân Nguyễn Hà M do đa chấn thương chấn thương sọ não vỡ nát ương sọ dập não.

Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị ã U t m giữ các tài liệu đồ vật có liên quan gồm: 01 (một) e ô tô biển số 61C - 329.08 cùng Giấy chứng nhận kiểm định e ô tô; 01 (một) e mô tô biển số 61E1 - 746.85.

Về trách nhiệm dân s : Quá trình điều tra ông Nguyễn Thanh S (là chồng của bà Nguyễn Thị T và là cha của cháu Nguyễn Hà M) đ i diện gia đình bị h i yêu cầu bị đơn dân s là Công ty Cổ phần K Bình Dương bồi thường thiệt h i với tổng số tiền là 750.000.000 đồng (bảy trăm năm mươi triệu đồng). Bị cáo Hoàng Anh T đã bồi thường số tiền 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu đồng) và Công ty Cổ phần K Bình Dương đã bồi thường số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) cho gia đình bị h i.

Ngày 23/6/2020 đ i diện hợp pháp của bị h i là ông Nguyễn Thanh S có đơn yêu cầu Công ty cổ phần K Bình Dương phải có nghĩa v bồi thường một lần với tổng số tiền t m tính là 1.354.765.000 đồng (được khấu trừ vào số tiền 500.000.000 đồng gia đình bị h i đã nhận) đồng thời phải th c hiện nghĩa v cấp dưỡng hàng tháng cho bà Nguyễn Thị L (mẹ ruột bị h i Nguyễn Thị T) số tiền t m tính là 3.600.000 đồng/tháng.

Ngày 22/07/2020 người bảo vệ quyền lợi của ông Nguyễn Thanh S có văn bản kiến nghị Tòa án về việc giải quyết yêu cầu bồi thường cho bị h i với tổng số tiền là 1.074.865.000 đồng. Khấu trừ số tiền 500.000.000 đồng mà gia đình bị h i đã nhận bồi thường yêu cầu Công ty Cổ phần K Bình Dương phải bồi thường một lần với số tiền còn l i là 574.865.000 đồng.

T i Bản án hình s sơ th m số 152/2020/HS-ST ngày 04/8/2020 Tòa án nhân dân thị xã U, tỉnh Bình Dương đã tuyên :

1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Anh T ph m tội “Vi ph m quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Về hình ph t: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình s

X ph t bị cáo Hoàng Anh T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày bắt thi hành án; khấu trừ thời gian bị t m giữ t m giam từ ngày 12/01/2020 đến ngày 22/01/2020.

3. Về trách nhiệm dân s : Căn cứ Điều 584 585 589, 590 591 và Điều 601 Bộ luật Dân s

Buộc Công ty Cổ phần K Bình Dương có nghĩa v tiếp t c bồi thường cho bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Thanh S và cháu Nguyễn Ánh L tổng số tiền 348.503.000 đồng (ba trăm bốn mươi tám triệu năm trăm lẻ ba nghìn đồng).

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 10/8/2020, bị cáo Hoàng Anh Tcó đơn kháng cáo in giảm nhẹ hình ph t.

Ngày 14/8/2020, bị đơn dân s đ i diện theo pháp luật của Công ty Cổ phần K Bình Dương kháng cáo về trách nhiệm dân s với nội dung:

- Công ty Cổ phần K Bình Dương và bị cáo Hoàng Anh T đã ký kết Hợp đồng lao động số 1213/HĐLĐ-KDPT ngày 06/02/2017 và Quy định số 08/QĐ-KDPT ngày 30/6/2016 về trách nhiệm bồi thường thiệt h i ngoài hợp đồng, theo đó: “Người lái xe gây tai nạn, gây thiệt hại cho Công ty và bên thứ ba thì người trực tiếp sử dụng phương tiện có trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại đó tương ứng với mức độ lỗi đã gây ra”. Do đó Tòa án cấp sơ th m buộc Công ty có trách nhiệm bồi thường cho bên bị h i là không đ ng.

- Tòa án cấp sơ th m không ghi nhận trách nhiệm bồi thường của Công ty Bảo hiểm V Bình Dương đối với Công ty Cổ phần K Bình Dương là không đ ng với thỏa thuận trong hợp đồng được ký bởi các bên.

- Quá trình tố t ng cơ quan tiến hành tố t ng không lập biên bản ác định giá trị thiệt h i làm căn cứ định giá tài sản không định giá tài sản, không xác minh giá trị thị trường nhưng Tòa án cấp sơ th m tuyên Công ty phải bồi thường giá trị thay mới ph tùng cho xe mô tô, biển kiểm soát 61E1-746.85 là 5.565.000 đồng và bồi thường số tiền bia mộ 10.000.000 đồng/bia mộ là không có căn cứ.

Do đó đề nghị Hội đồng xét x phúc th m hủy án sơ th m để điều tra, xét x l i.

T i phiên tòa, bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Đ i diện theo ủy quyền của bị đơn dân s Công ty Cổ phần K Bình Dương r t một phần kháng cáo, giữ l i một phần yêu cầu kháng cáo và cho rằng: Tòa án cấp sơ th m buộc Công ty Cổ phần KBình Dươngcó trách nhiệm bồi thường cho bị h i, trong khi hợp đồng lao động giữa Công ty Cổ phần K Bình Dương với bị cáo không miễn trừ trách nhiệm của bị cáo khi điều khiển phương tiện giao thông gây ra tai n n đối với bên thứ ba. Do đó bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho gia đình bị h i chứ không phải Công ty Cổ phần K Bình Dương.

Đ i diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày quan điểm giải quyết v án: Về thời h n kháng cáo đơn kháng cáo của bị cáo Hoàng Anh T và của bị đơn dân s Công ty Cổ phần K Bình Dương đ ng theo thời h n luật định. T i phiên tòa ph c th m bị đơn dân s r t một phần kháng cáo nên đề nghị Hội đồng t đình chỉ t đối với một phần kháng cáo của bị đơn dân s . T i phiên tòa ph c th m bị cáo Hoàng Anh T khai nhận hành vi ph m tội như bản án sơ th m nhận định. Bị cáo kháng cáo in giảm nhẹ hình ph t nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào khác bị cáo điều khiển phương tiện giao thông vượt không đ ng quy định của pháp luật gây t i tai n n làm chết hai người, lỗi hoàn toàn là của bị cáo hình ph t mà Tòa án cấp sơ th m áp d ng là phù hợp nên không có cơ sở em t giảm nhẹ trách nhiệm hình s cho bị cáo. Về kháng cáo của bị đơn dân s Công ty Cổ phần K Bình Dương là pháp nhân sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ gây tai n n cho người khác nên phải có trách nhiệm bồi thường cho bị h i và có quyền yêu cầu bị cáo th c hiện trách nhiệm của mình theo quy định của pháp luật trong v án khác. Do đó đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo không chấp nhận kháng cáo của bị đơn dân s giữ nguyên quyết định của bản án sơ th m.

Người bảo vệ quyền lợi cho đ i diện hợp pháp của bị h i cho rằng: Về phần bia mộ bồi thường về s a chữa e mô tô về hợp đồng bảo hiểm t i phiên tòa bị đơn dân s đã r t kháng cáo nên đề nghị Hội đồng t ph c th m đình chỉ đối với phần trách nhiệm dân s nói trên. Tòa án cấp sơ th m bị cáo Hoàng Anh T đ ng người đ ng tội, đ ng pháp luật. Theo quy định của pháp luật thì pháp nhân sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải có nghĩa v bồi thường cho bên thứ ba là đ ng pháp luật. Hơn nữa trước khi diễn ra phiên tòa sơ th m các bên đã thỏa thuận được với nhau về phần bồi thường trách nhiệm dân s , thỏa thuận là t nguyện không trái đ o đức ã hội. Bản án sơ th m tuyên buộc bị đơn dân s có trách nhiệm bồi thường 848.503.000 đồng trừ đi số tiền 500.000.000 đồng (đã bồi thường) bị đơn dân s còn phải bồi thường cho gia đình bị h i số tiền 348.503.000 đồng là phù hợp. Do đó đề nghị Hội đồng t giữ nguyên bản án sơ th m.

Trong lời nói sau cùng bị cáo mong Hội đồng t

em t giảm nhẹ hình ph t cho bị cáo t o điều kiện cho bị cáo sớm trở về chăm sóc gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung v án căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng t i phiên tòa Hội đồng t nhận định như sau:

Khoảng 08 giờ 45 phút ngày 12/01/2020, Hoàng Anh T điều khiển e trộn bê tông biển số 61C-329.08 lưu thông trên đường Nguyễn Hữu C theo hướng từ ngã ba ông T1 về ngã ba cây ăng Nam U – dốc cây Q1, khi xuất hiện xe ô tô tải ben lo i 05 tấn, không rõ biển số đang lưu thông cùng chiều phía trước, Hoàng Anh T điều khiển xe trộn bê tông biển số 61C-329.08 sang bên trái để vượt ô tô tải ben nhưng có một xe ô tô tải khác đang lưu thông hướng ngược chiều nên Hoàng Anh T không vượt được. Nên Hoàng Anh T điều khiển xe sang phải để vượt ô tô tải. Khi đang vượt thì mặt ngoài bánh trước bên phải của xe va ch m vào đầu tay cầm bên trái của xe mô tô biển số 61E1-746.85 do bà Nguyễn Thị T điều khiển, chở phía trước là cháu Nguyễn Ánh L và phía sau là cháu Nguyễn Hà M đang lưu thông cùng chiều song song, làm xe bà Nguyễn Thị T ngã xuống đường và bánh sau bên phải xe trộn bê tông cán qua người bà Thu và cháu Nguyễn Hà M, dẫn đến t vong. Cháu Nguyễn Ánh L bị thương tích nhẹ và xe mô tô biển số 61E1-746.85 bị hư hỏng nhẹ. Hành vi của bị cáo đã vi ph m khoản 2, 3 Điều 14 Luật Giao thông đường bộ, hậu quả khiến hai người chết. Do vậy, bị cáo Hoàng Anh T bị Tòa án cấp sơ th m xét x về tội “Vi ph m quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định t i điểm đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình s năm 2015 (s a đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đ ng người đ ng tội, đ ng quy định của pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét x xét thấy: Tòa án cấp sơ th m đã đánh giá tính chất mức độ ph m tội và em t các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình s và ph t bị cáo Hoàng Anh T 03 năm 06 tháng tù. Bị cáo kháng cáo in giảm nhẹ hình ph t nhưng bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình s nào khác v việc ảy ra lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

X t kháng cáo của bị đơn dân s Công ty Cổ phần K Bình Dương: Hội đồng t

t thấy t i phiên tòa đ i diện theo ủy quyền của bị đơn dân s đã r t một phần kháng cáo về trách nhiệm dân s nên Hội đồng t quyết định đình chỉ t ph c th m đối với phần trách nhiệm dân s mà đ i diện hợp pháp của bị đơn dân s đã r t kháng cáo.

Xét phần kháng cáo còn l i của bị đơn dân s : Đ i diện hợp pháp của bị đơn dân s cho rằng về bồi thường thiệt h i do người của pháp nhân gây ra. Bị đơn dân s cho rằng t i Khoản 2.6 Khoản 2 Điều 3 của Hợp đồng lao động số 1213/HĐLĐ-KDPT ngày 06/02/2017 quy định: “B n B phải chịu trách nhiệm bồi thường m i thiệt hại do lỗi c a mình gây ra cho B n A và b n thứ 3 có liên quan...”. Nhưng t i Điều 597 và Điều 601 Bộ luật Dân s quy định: “Pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người c a mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao; nếu pháp nhân đã bồi thường thiệt hại thì có quyền y u cầu người có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định c a pháp luật”. Do đó Tòa án cấp sơ th m nhận định Công ty Cổ phần KBình Dương có trách nhiệm bồi thường cho bên thứ 3 là đ i diện hợp pháp của bị h i là đ ng quy định của pháp luật. Khi Công ty đã bồi thường cho bên bị h i thì có quyền yêu cầu bị cáo phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật bằng một v án dân s khác.

Từ những lập luận trên t thấy không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo và bị đơn dân s Công ty Cổ phần K Bình Dương về trách nhiệm dân s .

Ý kiến của đ i diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về việc giải quyết v án và lời trình bày của người bảo vệ quyền lợi của bị h i là phù hợp nên được Hội đồng t chấp nhận.

Các phần khác của quyết định án sơ th m không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu l c pháp luật.

Án phí hình s ph c th m:

Bị cáo Hoàng Anh T phải nộp theo quy định của pháp luật.

Đối với bị đơn dân s : Căn cứ vào Điều 222 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và s d ng án phí và lệ phí Tòa án thì bị đơn dân s kháng cáo về phần dân s phải nộp tiền t m ứng án phí ph c th m nhưng Tòa án cấp sơ th m không ra thông báo để bị đơn dân s th c hiện nghĩa v nộp t m ứng án phí ph c th m là không đ ng. Kháng cáo của bị đơn dân s không được Tòa án cấp ph c th m chấp nhận nên phải chịu án phí ph c th m theo quy định. Do đó bị đơn dân s Công ty Cổ phần K Bình Dương phải nộp 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a đ khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố t ng hình s ;

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Anh T; đình chỉ một phần xét x phúc th m về phần trách nhiệm dân s của bị đơn dân s Cổ phần K Bình Dương; không chấp nhận kháng cáo của bị đơn dân s Công ty Cổ phần K Bình Dương đối với phần trách nhiệm dân s còn l i; giữ nguyên quyết định của Bản án hình s sơ th m số 152/2020/HS-ST ngày 04/8/2020 của Tòa án nhân dân thị xã U, tỉnh Bình Dương như sau:

1. Áp d ng điểm đ khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình s ,

X ph t bị cáo Hoàng Anh T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Vi ph m quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày bắt thi hành án; khấu trừ thời gian bị t m giữ, t m giam từ ngày 12/01/2020 đến ngày 22/01/2020.

2. Về trách nhiệm dân s : Căn cứ vào Điều 584, 585, 589, 590, 591 và Điều 601 Bộ luật Dân s ,

Buộc Công ty Cổ phần K Bình Dương có nghĩa v tiếp t c bồi thường cho bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Thanh S và cháu Nguyễn Ánh L tổng số tiền 348.503.000 đồng (ba trăm bốn mươi tám triệu năm trăm lẻ ba nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu l c pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định t i Điều 357 Điều 468 của Bộ luật Dân s năm 2015 trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định t i Điều 2 Luật Thi hành án dân s thì người được thi hành án dân s người phải thi hành án dân s có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, t nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định t i các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân s ; thời hiệu thi hành án được th c hiện theo quy định t i Điều 30 Luật Thi hành án dân s .

3. Về án phí hình s ph c th m: Áp d ng Điều 136 của Bộ luật Tố t ng hình s ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và s d ng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo Hoàng Anh T phải nộp 200.000 đồng.

Bị đơn dân s Công ty Cổ phần K Bình Dương phải nộp 300.000 đồng.

4. Các phần khác của quyết định án sơ th m không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu l c pháp luật kể từ ngày hết thời h n kháng cáo kháng nghị.

Bản án ph c th m có hiệu l c pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ