- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN CỘNG HÒA XÃ HỘ CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 184 /2019/HSST Ngày 17 tháng 10 năm 2019 |
NNHHÂÂNN DDAANNHH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Chu Thị Tuyết
2. Ông Đỗ Quang Linh
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đào Thị Tuyền - là thư ký
Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.
- §¹i diÖn ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n quËn Thanh Xuân, Hµ Néi tham gia
phiªn toµ: Bà Nguyễn Bích Thủy - KiÓm s¸t viªn.
Trong ngày 17 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 182/2019/HSST ngày 20/9/2019, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 275/2019/QĐXXST – HS ngày 03/10/2019, đối với bị cáo:
Trịnh Văn M – Sinh năm 1976; tên gọi khác; không; giới tính: nam; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Lưu X, xã Đức G, huyện H, Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Văn C và bà Phạm Thị Y; vợ là Nguyễn Thị P và 02 con lớn sinh năm 2000 và nhỏ sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không; danh chỉ bản số: 238, lập ngày 11/6/2019 tại Công an quận Thanh Xuân; bị cáo bị bắt quả tang ngày 07/6/2019, Bị tạm giữ từ ngày 07/6/2019 đến ngày 13/6/2019; bị cáo tại ngoại. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 00 giờ 30 ngày 07/6/2019, tổ Công tác công an phường Hạ Đình, Thanh Xuân, Hà Nội làm nhiệm vụ trên tuyến đường Ngụy Như Kon Tum, Nhân Chính, Thanh Xuân, Hà Nội phát hiện Trịnh Văn M vừa xuống xe taxi đi bộ vào trong ngõ 80 Ngụy Như Kon Tum có biểu hiện nghi vấn, tổ công tác tiến hành kiểm tra tại trước số 110 ngõ 80 Ngụy Như Kon Tum. Quá trình kiểm tra, M đã khai nhận đang cất giấu ma túy trong người rồi tự tay lấy từ trong túi quần phía sau bên phải 01 vật bên ngoài bọc băng dính màu đen, bên trong có 02 ống nhựa màu da cam chiều dài lần lượt là 02 cm và 03 cm, bên trong mỗi ống có chứa tinh thể màu trắng giao nộp cho tổ công tác, đồng thời M khai nhận 02 ống nhựa màu da cam trên chứa ma túy đá M mua về để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản thu giữ, biên bản niêm phong vật chứng rồi đưa M về trụ sở Công an phường Nhân Chính để làm rõ.
Cơ quan Công an đã thu giữ của Trịnh Văn M: 02 ống nhựa màu da cam chiều dài lần lượt là 02 cm và 03 cm bên trong mỗi ống chứa tinh thể màu trắng, bên ngoài bọc băng dính đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia loại 1200 có số imei 359841017201066 mang sim số 0962989627.
Tại kết luận giám định số 3702/KLGĐ – PC09 ngày 13/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội kết luận: tinh thể màu trắng bên trong 02 đoạn ống nhựa màu da cam (bên ngoài bọc băng dính màu đen) đều là ma túy loại Methamphetamin, tổng khối lượng 0,465 gam.
Tại Cơ quan điều tra, Trịnh Văn M khai nhận hành vi phạm tội như sau: toàn bộ số ma túy mà Cơ quan Công an thu giữ là của M mua của 01 người đàn ông không quen biết tại khu vực ngã tư Trôi, Hoài Đức, Hà Nội với số tiền 300.000 đồng từ chiều ngày 06/6/2019. Đến khoảng 22 giờ ngày 06/6/2019, M nhận được điện thoại từ số 0368028222 của 01 người tên Trường nói với M “anh mang ít đồ ra chỗ em, mấy anh em cùng chơi”. M hiểu ý của Trường nói mang ma túy đến để sử dụng cùng nên M đồng ý. Trường đặt xe taxi Grap cho M đi đến ngõ 80 Ngụy Như Kon Tum, Thanh Xuân, Hà Nội, khi đi M mang theo 02 ống nhựa chứa ma túy vừa mua. Khi đến nơi, M xuống xe và đang đi bộ đến trước cửa số nhà 110 ngõ 80 Ngụy Như Kon Tum thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt giữ cùng toàn bộ tang vật.
Nguồn ma túy thu giữ, Trịnh Văn M khai mua của một người đàn ông ở ngã tư Trôi, Hoài Đức, Hà Nội nhưng không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để làm rõ.
Đối với người đàn ông tên Trường liên lạc cho M theo số điện thoại 0368028222, M khai quen biết với Trường qua mối quan hệ xã hội, M không biết đầy đủ tên, địa chỉ cụ thể. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ thông tin số điện thoại trên nhưng không xác định được. Do vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra làm rõ.
Đối với người lái xe taxi Grap, M khai không biết tên tuổi địa chỉ cụ thể , không nhớ biển kiểm soát nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra làm rõ.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia loại 1200 có số imei 359841017201066 mang sim số 0962989627 là tài sản hợp pháp của Trịnh Văn M, có sử dụng liên lạc với Trường để cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy.
Bản cáo trạng số 162 ngày 18/9/2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, Hà Nội đã truy tố Trịnh Văn M về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trịnh Văn M về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Trịnh Văn M từ 14 tháng tù đến 16 tháng tù; Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,465 gam Methamphetamine. Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động Nokia loại 1200 có số imei 359841017201066 mang sim số 0962989627 thu giữ của M.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo không có ý kiến bào chữa và cũng không tranh luận với bản luận tội và kết tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, lời khai người làm chứng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
. Tại phiên tòa bị cáo Trịnh Văn M đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã nêu, thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản phạm pháp quả tang và vật chứng thu được trong vụ án, đồng thời căn cứ vào kết luận giám định số 3702/KLGĐ-PC09 ngày 13/6/2019 của phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội, đủ cơ sở kết luận: khoảng 00 giờ 30 ngày 07/6/2019, tại trước số nhà 110 ngõ 80 Ngụy Như Kon Tum, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội, Trịnh Văn M đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,465 gam Methamphetamine với mục đích để sử dụng thì bị bắt giữ cùng vật chứng. Hành vi nêu trên của bị cáo Trịnh Văn M phạm vào tội Tàng tữ trái phép chất ma túy. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân truy tố bị cáo theo quy định điểm c kho¶n 1 §iÒu 249 Bé luËt h×nh sù là có căn cứ và đúng pháp luật.
. Tính chất vụ án là nghiệm trọng. Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, là nguyên nhân phát sinh nhiều tội phạm nguy hiểm, tiếp tay cho tệ nạn ma túy ngày càng phát triển. Bị cáo biết rõ tác hại của ma túy nhưng vẫn thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Hành vi phạm tội lần này của bị cáo là cố ý, vì vậy cần phải xử lý bị cáo nghiêm trước pháp luật, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo Trịnh Văn M thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, thái độ ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu, bố đẻ bị cáo được tặng thưởng huy chương kháng chiến, bản thân bị cáo có thời gian tham gia quân ngũ nên xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập.Vì vậy. Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,465 gam Methamphetamine.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động Nokia loại 1200 có số imei 359841017201066 mang sim số 0962989627 tạm giữ của bị cáo, bị cáo khai có liên lạc với Trường để cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy, nên xác định chiếc điện thoại trên có liên quan đến hành vi sử dụng ma túy của bị cáo vì vậy cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
V× c¸c lÏ trªn.
QuyÕt ®Þnh
Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Văn M phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”
Áp dụng: - Điểm c khoản 1Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
- Điều 47 Bộ luật hình sự;
- Các Điều 106; 136; 298; 331; 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt: Bị cáo Trịnh Văn M 16 (mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 07/6/2019 đến ngày 13/6/2019.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong dán kín có chữ ký của giám định viên Nguyễn Thị Thành, đồng chí Hoàng Thành Đạt công an phường Hạ Đình, người chứng kiến Phạm Việt Đức, đối tượng Trịnh Văn M và đóng dấu đỏ của Công an phường Hạ Đình vào mép dán niêm phong, bên trong có 02 đoạn ống nhựa màu da cam, bên ngoài bọc băng dính màu đen có tổng khối lượng 0,465 gam Methamphetamin.
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia loại 1200 có số imei 359841017201066 mang sim số 0962989627
(tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 15 tháng 10 năm 2019 của chi cục thi hành án dân sự quận Thanh Xuân).
Bị cáo Trịnh Văn M phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. N¬i nhËn
Tm. Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm
- TAND thµnh phè Hµ Néi.
ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn
- VKSND quËn Thanh Xuân.
- BÞ c¸o.
(Đã ký)
- L u.
Nguyễn Thị Thanh Huyền Thành viên hội đồng xét xử
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Đặng Thị Hường N¬i nhËn
| - TAND thµnh phè Hµ Néi. - VKSND quËn §èng §a. - BÞ c¸o. - L u. ph¸n | Tm. Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn Đặng Thị Hường |