- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thị Tr phạm tội "Tàng trũ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Thị Tr; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 269/2019/HS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2019 của Tòa án nhân dân thị xã D, tỉnh Bình Dương
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 184/2019/HS-PT Ngày: 21-11-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Th m ph n - Ch t a ph n t a: Ông Trần Văn Luông;
- C c Th m ph n:
Ông Bùi Ngọc Thạch;
Ông Lê Quân Vương.
- Thư ký ph n t a:Ông Phạm Văn Tuyên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đạ d ện V ện k ểm s t nhân dân tỉnh Bình Dương tham g a ph n toà: Bà Nguyễn Thị Phương Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2019, tại trụ s Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương m phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 190/2019/TLPT-HS ngày 11 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo Phạm Thị Tr. Do có kháng cáo của bị cáo Phạm Thị Tr đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 269/2019/HS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2019 của Tòa án nhân dân thị xã D, tỉnh Bình Dương.
- Bị c o có kháng cáo:
Phạm Thị Tr, sinh năm 1996 tại tỉnh Nghệ An. Hộ khẩu thường trú: Xóm 5, xã A, huyện B, tỉnh Nghệ An; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Không; con ông Phạm Quang H, đã chết và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1962; có 03 anh chị ruột, lớn nhất sinh năm 1984, nhỏ nhất sinh năm 1993; chồng tên Lê Văn T, sinh năm 1993; có 01 con sinh ngày 02/3/2017; tiền sự, tiền án: Không; bị tạm giữ ngày 23/5/2019; thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 31/5/2019; bị cáo tại ngoại (có mặt).
Ngoài ra, trong vụ án còn có 01 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Thị Tr là người sử dụng ma túy tổng hợp từ năm 2019. Vào khoảng 23 giờ ngày 22/5/2019, Lê Văn T điều khiển xe mô tô biển số 84B1 – 530.18 ch Phạm Thị Tr đi dự tiệc sinh nhật quán bar Diamond Luxury phường C, thị xã Đ, tỉnh Bình Dương. Phạm Thị Tr vào quán bar dự tiệc sinh nhật đến khoảng 02 giờ ngày 23/5/2019 thì hỏi mua 3.100.000 đồng ma túy của 01 người đàn ông trong quán bar (không rõ nhân thân lai lịch) để mang về sử dụng và đưa cho Tr 01 túi nylon miệng kéo dính bên trong có 06 viên nén màu vàng, 01 viên nén màu hồng, 02 gói nylon chứa chất màu trắng. Sau đó, Tr cầm ma túy trên tay và gọi Lê Văn T đến ch về.
Khoảng 02 giờ 30 cùng ngày, khi cả hai đi đến trước số nhà 520/3, tổ 3, khu phố E, phường G, thị xã D, tỉnh Bình Dương, Công an phường G kiểm tra hành chính, phát hiện Phạm Thị Tr ném xuống đường 01 bịch nylon miệng kéo dính bên trong có 06 viên nén màu vàng, 01 viên nén màu hồng, 02 gói nylon chứa chất màu trắng. Phạm Thị Tr thừa nhận là thuốc lắc và ma túy tổng hợp của Tr để sử dụng nên bị bắt người phạm tội quả tang cùng tang vật.
Vật chứng thu giữ: 01 bịch nylon miệng kéo dính bên trong có 06 viên nén màu vàng, 01 viên nén màu hồng, 02 gói nylon chứa chất màu trắng.
Căn cứ Kết luận giám định số 408/MT-PC09 ngày 31/5/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Mẫu chất màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,8387 gam (M1) loại Ketamine. Mẫu viên nén gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 2,3340 gam (M2), 0,3440 gam (M3) loại MDMA.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Phạm Thị Tr tại quán bar Diamon Luxury hiện không xác định được nhân thân, lai lịch, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã D xác minh làm rõ, xử lý sau.
Đối với Lê Văn T không biết Phạm Thị Tr tàng trữ ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã D không xử lý.
Đối với xe mô tô biển số 84B1 – 530.18 là tài sản hợp pháp của Nguyễn Thị Th cho Lê Văn T mượn để đi công việc nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã D đã trả lại xe cho Th.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 269/2019/HS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2019 của Tòa án nhân dân thị xã D, tỉnh Bình Dương, quyết định:
Tuyên bố bị cáo Phạm Thị Trphạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Phạm Thị Tr 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án; được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 23/5/2019 đến ngày 31/5/2019.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 21/9/2019, bị cáo Phạm Thị Tr kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt (đơn kháng cáo trong thời hạn luật định).
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày quan điểm giải quyết vụ án: Về thời hạn kháng cáo, đơn kháng cáo của bị cáo Phạm Thị Tr đúng theo thời hạn luật định. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theođiểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo có cung cấp tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm mới là ông nội bị cáo có công với cách mạng và được tặng thư ng Huân chương kháng chiến hạng Nhất nhưng Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tùlà phù hợp. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo thừa nhận hành vi vi phạm pháp luật của mình, bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo làm việc nuôi mẹ già và con nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phạm Thị Tr đã khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, bản cáo trạng và tại phiên tòa sơ thẩm như sau: Khoảng 02 giờ 30 ngày 22/5/2019, trước số nhà 520/3 tổ 3, khu phố E, phường G, thị xã D, tỉnh Bình Dương, Công an phường G kiểm tra hành chính, phát hiện Phạm Thị Tr tàng trữ 01 bịch nylon miệng kéo dính bên trong có 06 viên nén màu vàng, 01 viên nén màu hồng, 02 gói nylon chứa chất màu trắng là ma túy, có khối lượng: 0,8387 gam (M1) loại Ketamine; 2,3340 gam (M2) và 0,3440 gam (M3) loại MDMAđể sử dụng.Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Phạm Thị Tr về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo Phạm Thị Tr về việc xin giảm nhẹ hình phạt: Hội đồng xét xử xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Thị Tr là nguy hiểm cho xã hội. MDMA và Ketamine là chất ma túy n m trong danh mục các chất ma túy được dùng hạn chế trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm hoặc trong lĩnh vực y tế theo quy định của nhà nước. Ma túy không chỉ huỷ hoại sức khoẻ con người mà còn là nguyên nhân phát sinh các tội phạm, tệ nạn xã hội khác. Do đó, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là hết sức nguy hiểm, không những xâm phạm chính sách quản lý độc quyền của nhà nước đối với chất ma túy mà còn ảnh hư ng đến tình hình an ninh, trật tự công cộng tại địa phương. Bị cáo nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là trái pháp luật, khi bị phát hiện s bị trừng trị một cách nghiêm khắc nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện tội phạm cho thấy bị cáo bất chấp hậu quả và xem thường pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo có cung cấp tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm mới là ông nội bị cáo có công với cách mạng và được tặng thư ng Huân chương kháng chiến hạng Nhất nhưng Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tùlà tương xứng với mức độ, tính chất của hành vi phạm tội của bị cáo.Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về việc giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Án phí hình sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Phạm Thị Tr phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì c c lẽ tr n;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;
1.Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Thị Tr; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 269/2019/HS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2019 của Tòa án nhân dân thị xã D, tỉnh Bình Dương
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Phạm Thị Tr 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án; được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 23/5/2019 đến ngày 31/5/2019.
2.Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Phạm Thị Tr phải nộp 200.000 đồng.
3.Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Dương; 1 - TAND thị xã D; 2 - VKSND thị xã D; 1 - Chi cục THADS thị xã D; 1 - Phòng PV06 - Công an tỉnh BD; 1 - Công an thị xã D; 1 - S Tư pháp tỉnh Bình Dương; 1 - Bị cáo. 1 - Lưu: Tổ HCTP, HSVA, Tòa HS. 1 3 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký) Trần Văn Luông |