vanban.org

Bản án 184/2018/HSST — Hình sự

TAND Q. Hoàn Kiếm, TP. Hà Nội Tuyên án 11/10/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân T - Mua bán trái phép chất ma tuý - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN ND QUẬN HOÀN KIẾM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 184/2018/HSST
Ngày: 11/10/2018.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Bình.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hương

Ông Nguyễn Ngọc Hấn

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh - Thư ký Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Diệu Thùy– Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 10 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 192/2018/HSST ngày 14 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo:

NGUYỄN XUÂN T; sinh ngày 08 tháng 7 năm 1974; hộ khẩu thường trú: số 340 T , phường Đ, quận H, Hà Nội; chỗ ở: không xác định; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 12/12; con ông: Nguyễn Xuân L và bà: Nguyễn T; Danh chỉ bản số: 218 ngày 10/04/2018 lập tại Công an quận Hoàn Kiếm, Hà Nội; tiền án: 01 tiền án: Ngày 20/3/2015, Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng áp dụng điều 194 khoản 1 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt 26 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, án số: 70/HSST. Chấp hành xong hình phạt ngày 27/08/2016; nhân thân: Ngày 18/05/2006, Toà án nhân dân quận Hoàng Mai áp dụng điều 194 khoản 1 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, án số: 146/HSST (đã xoá án tích); ngày 25/5/2009, Toà án nhân dân quận Hoàng Mai áp dụng điều 194 khoản 1 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, án số 335/HSST (đã xoá án tích) ; tiền sự: Không; danh chỉ bản số 218 ngày 10/4/2018 tại Công an quận Hoàn Kiếm; tạm giữ: 06/4/2018; Tạm giam: 15/4/2018; (Có mặt tại phiên tòa).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Nguyễn Thị H, sinh năm: 1982, chỗ ở: 30 ngõ 59/11 N, phường C, quận Đ, Hà Nội; (Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 22 giờ 30 phút ngày 05/4/2018, tại đầu ngõ 103 Nguyên Khiết, phường Phúc Tân, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, Công an phường Hàng Bài, quận Hoàn Kiếm bắt quả tang Nguyễn Xuân T đang có hành vi mua bán trái phép chất ma tuý. Tổ công tác đã đưa T. cùng tang vật về trụ sở để giải quyết, đi cùng T. còn có Nguyễn Thị Bích H (sinh năm: 1982, chỗ ở: 30 ngõ 59/11 Giảng Võ, phường Cát Linh, quận Đống Đa, Hà Nội).

Ngoài ra còn thu giữ của Nguyễn Xuân T: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Asus Zenfone 5 màu đen trắng, kèm sim card. Thu giữ của Nguyễn Thị Bích H: 01 xe máy Piaggio Vespa có BKS: 29E1 – 819.03; 01 điện thoại di động OPPO F5 màu đỏ kèm sim card; 01 điện thoại di động Samsung kèm sim card.

Tại bản giám định số 3442/KLGĐ – PC54 ngày 12/4/2018, của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilong màu trắng, kích thước 4 x 6 cm có dán băng dính màu đen có khối lượng 0,622 gam là ma tuý loại Methamphetamine. Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilong màu trắng kích thước 4 x 6 cm có khối lượng 4,889 gam là ma tuý loại Methamphetamine. Tổng cộng lượng 5,511 gam ma tuý loại Methamphetamine.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Xuân T khai: Khoảng 15 giờ 40 phút ngày 05/4/2018, sau khi vay Sơn (không rõ nhân thân) – bạn quen ngoài xã hội 3.200.000 đồng tại phố Trần Đại Nghĩa, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, T. liên lạc với Đức (không rõ nhân thân) qua số điện thoại 0965897511 để mua 05 gam ma tuý “đá” với giá 3.000.000đồng tại khu vực gầm cầu Long Biên, quận Hoàn Kiếm. Sau khi mua được ma tuý, T. trích một ít trong số ma tuý vừa mua được cho vào một túi nilong khác bên trong rãnh khoá quần bò đang mặc với mục đích để sử dụng. Số ma tuý còn lại T. dán trên bắp chân phải của mình với mục đích để bán thu lời bất chính. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày 05/4/2018, chị Hương đón T. đi ăn trên phố Mã Mây, quận Hoàn Kiếm. Trong khi ngồi ăn, T. nhận điện thoại của bạn quen ngoài xã hội tên Tuấn (không rõ nhân thân) hỏi mua ma tuý, T. nói có 05 gam ma tuý bán với giá 3.200.000 đồng, Tuấn đồng ý, hẹn giao ma tuý và trả tiền tại ngõ 103 Nguyên Khiết, Phúc Tân, Hoàn Kiếm. Khi T. điều khiển xe máy chở Hương đến điểm hẹn đứng chờ Tuấn, thì bị kiểm tra, bắt giữ cùng tang vật như đã nêu trên, Việc T. mua bán trái phép chất ma tuý không nói cho Hương biết.

Đối với đối tượng bán ma tuý cho Nguyễn Xuân T và đối tượng mua ma tuý của T. có tên Tuấn, do không rõ nhân thân mà chỉ biết số điện thoại. Cơ quan điều tra đã tiến hành rút list điện thoại nhưng không xác định được chủ thuê bao, vì vậy không có điều kiện xác minh làm rõ để xử lý.

Đối với Nguyễn Thị Bích H, không biết việc T. mua bán trái phép chất ma tuý, nên Cơ quan điều tra không đề nghị xử lý hình sự.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Piaggio Vespa BKS: 29E1 – 819.03 đã thu giữ, thuộc sở hữu của chị Nguyễn Thị Bích H. Ngày 05/4/2018, T. điều khiển xe máy trên chở chị Hương, chị Hương không biết T. có liên quan đến ma tuý, nên Cơ quan điều tra đã trả cho chị Hương, chị Hương nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường dân sự.

Bản cáo trạng số 173 ngày 23/8/2018 Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm truy tố Nguyễn Xuân T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”– theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận tội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị Bích H có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên trả lại cho chị 02 chiếc điện thoại di động chị cho bị cáo mượn gồm: 01 điện thoai di động SAMSUNG màu đen, kèm sim số 0966136299, 01 điện thoại di động OPPO màu đỏ, kèm sim số 0984625670, do chị Hương không biết bị cáo sử dụng điện thoại của chị để liên lạc mua bán ma túy.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm như đã nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm i khoản 2, Điều 251, điểm s khoản 1 điều 51, điểm h khoản 1 điều 52, điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T với mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù.

Về xử lý vật chứng: áp dụng điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: *01 (một) phong bì niêm phong bên trong đựng 02 (hai) túi nilong:

+ 01 (một) túi chứa tinh thể màu trắng khối lượng 0,622gam là ma túy loại Methamphetamine (PC 54 đã trích mẫu 0,153gam còn lại 0,469gam Methamphetamine);

+ 01 (một) túi chứa tinh thể màu trắng khối lượng 4,889gam là ma túy loại Methamphetamine (PC 54 đã trích mẫu 0,281gam còn lại 4,608gam Methamphetamine);

- Tịch thu xung công quỹ Nhà nước:

+ 01 điện thoại di động ASUS màu đen trắng đã cũ, và 01 sim điện thoại đã cũ, của bị cáo.

+ 01 điện thoại di dộng SAMSUNG màu đen đã cũ, kèm sim; và 01 điện thoại di động OPPO màu đỏ đã cũ, kèm sim - của chị Nguyễn Thị Bích H.

NHẬN ĐỊNH CỦA tßa ¸n:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quậnHoàn Kiếm, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quậnHoàn Kiếm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo,người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định bị cáo có tội: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa khẳng định: Khoảng 15 giờ 40 phút ngày 05/4/2018, bị cáo đã mua 05 gam ma tuý “đá” với giá 3.000.000 đồng tại khu vực gầm cầu Long Biên, quận Hoàn Kiếm. Sau khi mua được ma tuý, bị cáo trích một ít trong số ma tuý vừa mua được cho vào một túi nilong khác bên trong rãnh khoá quần bò đang mặc với mục đích để sử dụng. Số ma tuý còn lại bị cáo dán trên bắp chân phải của mình với mục đích để bán thu lời bất chính. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày 05/4/2018, trong khi ngồi ăn trên phố Mã Mây, quận Hoàn Kiếm cùng bạn là chị Nguyễn Thị Bích H, bị cáo nhận điện thoại của bạn quen ngoài xã hội tên Tuấn (không rõ nhân thân) hỏi mua ma tuý, bị cáo nói có 05 gam ma tuý bán với giá 3.200.000 đồng, Tuấn đồng ý mua. Khi bị cáo chở chị Hương đến chỗ hẹn giao ma tuý và trả tiền tại ngõ 103 phố Nguyên Khiết, phường Phúc Tân, quận Hoàn Kiếm thì bị kiểm tra, bắt giữ cùng tang vật như đã nêu trên.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa thống nhất và phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, của người làm chứng, biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, vật chứng, kết luận giám định số 3442/KLGĐ-PC54 ngày 12/4/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ.

Tang vật thu giữ của Nguyễn Xuân T là ma túy loại Methamphetamine, tổng trọng lượng 5,511gam.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Xuân T đã cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma túy"; Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm truy tố bị cáo tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 2 điều 251 Bộ luật hình sự là đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo: Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, ma túy là chất gây nghiện hủy hoại tàn phá sức khỏe của người nghiện, ma túy là một trong các nguyên nhân của hiểm họa HIV-AIDS; ma túy còn là nguồn gốc phát sinh ra nhiều loại tội phạm khác trong xã hội. Vì những tác hại của ma túy nên Pháp luật Nhà nước ta kiên quyết loại trừ ma túy ra khỏi đời sống xã hội và xử lý rất nghiêm khắc đối với tội phạm về ma túy. Bản thân bị cáo biết rất rõ tác hại của ma túy gây ra cho cộng đồng nhưng vẫn tiếp tay cho tệ nạn mua bán trái phép chất ma túy phát triển. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an xã hội.

Bị cáo có 01 tiền án: Ngày 20/3/2015, Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng áp dụng điều 194 khoản 1 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt 26 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, chấp hành xong hình phạt ngày 27/08/2016, chưa được xóa án tích, thì bị cáo lại tiếp tục phạm tội này, do đó hành vi phạm tội lần này được xác định là tái phạm.

Về nhân thân: Ngày 18/05/2006, Toà án nhân dân quận Hoàng Mai áp dụng điều 194 khoản 1 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý; ngày 25/5/2009, Toà án nhân dân quận Hoàng Mai áp dụng điều 194 khoản 1 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Như vậy, nhân thân của bị cáo thuộc loại xấu, các tiền án trước của bị cáo đều liên quan đến ma túy. Hành vi phạm tội của bị cáo đã được các cơ quan pháp luật xử lý giáo dục nhiều lần song vẫn không chịu sửa chữa. Do vậy, cần có mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tăng nặng: Hành vi phạm tội lần này của bị cáo được xác định là tái phạm theo điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự.

- Giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo theo quy định tại khoản 5 điều 251 Bộ luật hình sự.

[6] Về xử lý vật chứng:

- TÞch thu tiªu huû :

*01 (một) phong bì niêm phong bên trong đựng 02 (hai) túi nilong:

+ 01 (một) túi chứa tinh thể màu trắng khối lượng 0,622gam là ma túy loại Methamphetamine (PC 54 đã trích mẫu 0,153gam còn lại 0,469gam Methamphetamine);

+ 01 (một) túi chứa tinh thể màu trắng khối lượng 4,889gam là ma túy loại Methamphetamine (PC 54 đã trích mẫu 0,281gam còn lại 4,608gam Methamphetamine);

Trên các mép niêm phong có chữ ký của đương sự Nguyễn Xuân T, giám định viên Nguyễn Thị Thành, cán bộ công an phường Hàng Bài là Phương Quốc Huy.

(Theo kết luận giám định số 3442/KLGĐ-PC54 ngày 12/4/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự- công an thành phố Hà Nội và các biên bản niêm phong vật chứng).

* 01 điện thoại di động ASUS màu đen trắng, đã cũ, có số Imei: 35225…7503, màn hình có vết dạn nứt – không còn giá trị sử dụng.

* 01 sim điện thoại đã cũ.

- Trả cho chị Nguyễn Thị Bích H: 02 điện thoại di động do chị Hương không biết bị cáo sử dụng điện thoại của chị vào việc mua bán ma túy, gồm:

* 01 điện thoại di động SAMSUNG màu đen, đã cũ, có số Imei: 3569…8953, kèm sim số 0966136299

* 01 điện thoại di động OPPO màu đỏ, đã cũ, có số Imei: 86690…3575, kèm sim số 0984625670

(Các máy và sim điện thoại đã cũ. Tại thời điểm bàn giao máy điện thoại không mở được để kiểm tra, chất lượng , hiện trang không rõ).

(Theo biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày 19/9/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm).

[7] Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo toàn bộ bản án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ củamình theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH:

1.Về hình sự:

+ Tuyên bố bị c¸o Nguyễn Xuân T phạm téi Mua b¸n tr¸i phÐp chÊt ma tuý.

+ ¸p dông: Áp dụng điểm i khoản 2 điều 251; điểm s khoản 1 điều 51; điểm h khoản 1 điều 52, điều 38 Bộ luật hình sự.

+ Xö ph¹t: Nguyễn Xuân T 07 ( bẩy) năm 06 (sáu) tháng tï. Thêi h¹n chấp hành hình phạt tï tÝnh tõ ngµy 06/4/2018.

2.Về Xử lý vật chứng:

+ Áp dụng: Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- TÞch thu tiªu huû:

*01 (một) phong bì niêm phong bên trong đựng 02 (hai) túi nilong:

+ 01 (một) túi chứa tinh thể màu trắng khối lượng 0,622gam là ma túy loại Methamphetamine (PC 54 đã trích mẫu 0,153gam còn lại 0,469gam Methamphetamine);

+ 01 (một) túi chứa tinh thể màu trắng khối lượng 4,889gam là ma túy loại Methamphetamine (PC 54 đã trích mẫu 0,281gam còn lại 4,608gam Methamphetamine);

Trên các mép niêm phong có chữ ký của đương sự Nguyễn Xuân T, giám định viên Nguyễn Thị Thành, cán bộ công an phường Hàng Bài là Phương Quốc Huy.

(Theo kết luận giám định số 3442/KLGĐ-PC54 ngày 12/4/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự- công an thành phố Hà Nội và các biên bản niêm phong vật chứng).

* 01 điện thoại di động ASUS màu đen trắng, đã cũ, có số Imei: 35225…7503, màn hình có vết dạn nứt.

* 01 sim điện thoại đã cũ.

- Trả cho chị Nguyễn Thị Bích H:

* 01 điện thoại di động SAMSUNG màu đen, đã cũ, có số Imei: 3569…8953, kèm sim số 0966136299;

* 01 điện thoại di động OPPO màu đỏ, đã cũ, có số Imei: 86690…3575, kèm sim số 0984625670;

(Các máy và sim điện thoại đã cũ. Tại thời điểm bàn giao máy điện thoại không mở được để kiểm tra, chất lượng , hiện trang không rõ).

(Theo biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày 19/9/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm).

3. Về Án phí và quyền kháng cáo:

+ Áp dụng: Điều 136 , Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.

Chị Nguyễn Thị Bích H có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.

Cỡ chữ