vanban.org

Bản án 184/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội Tuyên án 20/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Ngần Văn Q phạm tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy».

Xử phạt: Bị cáo Ngần Văn Q 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 31/7/2018. Về áp dụng biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Ngần Văn Q phạm tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy».
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T
TP. HÀ NỘI
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 184/2018/HS - ST
Ngày: 20/11/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài Các Hội thẩm nhân dân :

1. Ông Đinh Quang Huấn

2. Ông Bùi Xuân Đãng

Thư ký phiên tòa:

Bà Đoàn Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án

nhân dân huyện T, TP Hà Nội Đại diện VKSND huyện T - TP Hà Nội tham gia phiên tòa:

Bà Huỳnh Phương Linh - Kiểm sát viên

Ngày 20 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện T - thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 189/2018/HS- ST ngày 05/11/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 189/2018/QĐXXST - HS ngày 07/11/2018 đối với bị cáo:

Ngần Văn Q, sinh năm 1998; HKTT: Bản P, xã M, huyện T, Tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 8/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ngần Văn Đ và bà Cà Thị K; Tiền án, tiền sự: Không; (Danh chỉ bản số 00294 lập ngày 02/8/2018 tại Công an Quận T); Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 31/7/2018, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố Hà Nội (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Lường Văn S - Sinh năm 1989

Địa chỉ: Bản N, xã Q, huyện T, Điện Biên

(vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15h00' ngày 31/7/2018, Tổ công tác của Công an phường K, Công an quận T làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát tại khu vực cổng bệnh viện 09, xã T, huyện T, Hà Nội phát hiện thấy Ngần Văn Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SYM màu đen BKS 37B1 - 450.95 có biểu hiện nghi vấn nên đã kiểm tra hành chính. Khi Q điều khiển xe tới trước cửa số nhà 100, đường C thì bị tổ công tác dừng xe, Q tự lấy từ trong túi quần phía trước bên phải ra 01 gói chất bột màu trắng, Q khai là heroine. Tổ công tác Công an phường K phối hợp với Công an Đồn C - Công an huyện T lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ 01 gói giấy bên trong có chất bột mầu trắng và 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM màu đen, BKS 37B1 - 450.95.

Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận T đã trưng cầu giám định đối với chất bột màu trắng đã thu giữ của Q. Tại bản Kết luận giám định số 6335/PC54 ngày 06/8/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,191gam. Cơ quan giám định đã sử dụng hết 0,021gam heroine để làm giám định, hoàn trả Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an Quận T 0,170gam heroine.

Tại cơ quan điều tra Ngần Văn Q khai nhận: Khoảng 14 giờ 00' ngày 31/7/2018, Q mượn xe mô tô BKS 37B1 - 450.95 của anh Lường văn S là bạn cùng làm với Q đến khu vực Bệnh viện 09 thuộc thôn Y, xã T, huyện T, Hà Nội để mua ma túy về sử dụng. Đến cổng bệnh viện 09, Q gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy với giá 300.000đồng. Q cất gói ma túy vào túi quần phía trước bên phải và điều khiển xe đi về thì bị bắt và thu giữ toàn bộ tang vật.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho Q, Q khai không biết tên, tuổi, địa chỉ, không nhận dạng được người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ.

Anh Lường Văn S cho Q mượn xe, không biết và không liên quan đến việc Q tàng trữ trái phép chất ma túy. Anh S đề nghị được nhận lại chiếc xe mô tô để làm phương tiện đi lại.

Bản cáo trạng số 176/CT - VKSTT ngày 31/10/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T đã truy tố bị cáo Ngần Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên toà:

* Bị cáo Ngần Văn Q thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nêu trên, thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố bị cáo là đúng. Khi được nói lời sau cùng bị cáo đã thể hiện thái độ ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử :

- Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt Bị cáo từ 12-18 tháng tù.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ của bị cáo; Trả lại anh Lường Văn S chiếc xe mô tô BKS 37B1 - 450.95.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra Viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh của bị cáo: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định có đủ cơ sở xác định: Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 31/7/2018, tại khu vực đường C, xã T, huyện T, Hà Nội, Ngần Văn Q đã có hành vi cất giấu 0,191 gam heroine ở túi quần phía trước bên phải thì bị Tổ công tác Công an phường K - Công an quận T phối hợp với Công an Đồn C, Công an huyện T bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố bị cáo ra trước Tòa án để xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ pháp lý.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sự độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy. Ma túy là chất gây nghiện huỷ hoại sức khoẻ con người, làm sói mòn đạo đức xã hội và là nguyên nhân gây ra các tội phạm hình sự khác, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội. Do đó, cần thiết phải xử lý bằng pháp luật hình sự đối với bị cáo và cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo bị cáo và giáo dục phòng ngừa chung cho mọi người.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tộc thiểu số nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.

Về nhân thân bị cáo: chưa có tiền án, tiền sự.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015: «Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng » . Xét bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng của vụ án: 0,170 gam heroine (trọng lượng còn lại sau giám định) hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện T là chất Nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với người thanh niên bán ma túy cho Q, Q không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Đối với chiếc xe mô tô BKS 37B1 - 450.95 quá trình điều tra xác định được chiếc xe là tài sản thuộc sở hữu của anh Lường Văn S. Anh S cho Q mượn, không biết Q sử dụng vào việc mua ma túy về sử dụng nên cần trả lại xe cho anh S.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo các điều 134, 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của UBTV Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được kháng cáo bản án theo Điều 331, 334 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Ngần Văn Q phạm tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy».

2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Ngần Văn Q 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 31/7/2018.

3. Về áp dụng biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

- Tịch thu tiêu hủy 0,170gam heroine (trọng lượng còn lại sau khi giám định) thu giữ của bị cáo hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T, Hà Nội (biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/11/2018).

- Trả lại anh Lường văn S xe mô tô nhãn hiệu SYM màu đen (dạng xe tay ga) BKS 37B1 - 450.95, số khung 12DAD109553, số máy MKADAD 109553 hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T (Biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/11/2018).

4. Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

- Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lường Văn S có quyền kháng cáo những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi của mình, trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự ; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ