vanban.org

Bản án 1836/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giao cho bà Lê Thị Phương Quyên trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Dương Ngọc Phương Nhi, sinh ngày 01/11/2007.

Ghi nhận sự tự nguyện của bà Lê Thị Phương Quyên không yêu cầu ông Dương Xuân Phúc cấp dưỡng nuôi con. Vì lợi ích của con chưa thành niên, khi cần thiết, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con, hạn chế quyền của cha mẹ đối với con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Giao cho bà Lê Thị Phương Quyên trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Dương Ngọc Phương Nhi, sinh ngày 01/11/2007.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH THẠNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 1836/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 15/9/2022
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thanh Phước

2. Bà Lâm Thị Hoàng Oanh

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mai Trâm - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Lê Mỹ Phương - Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 502/2022/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2022 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”;

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 249/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 205/2022/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 7 năm 2022 và số 269/2022/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:

1/ Nguyên đơn: Bà Lê Thị Phương Quyên, sinh năm 1968 (xin vắng mặt)

Địa chỉ: RS3-20.05 cao ốc TMDV 239-241&278 Hòa Bình, phường Hiệp Tân, quận Tân Phú.

2/ Bị đơn: Ông Dương Xuân Phúc, sinh năm 1968 (vắng mặt)

Địa chỉ tạm trú: 179/42/12 đường Trục, Phường 13, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ nơi làm việc: Công ty TNHH sản xuất thương mại quảng cáo Phúc Tân - số 156 Nơ Trang Long (nay là Đặng Thùy Trâm), Phường 13, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bà Lê Thị Phương Quyên và ông Dương Xuân Phúc là vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận kết hôn số 338/QH quyển số 01 đăng ký ngày 08/10/1990. Ông bà có ba con chung tên Dương Ngọc Xuân Vy, sinh ngày 03/9/1989, Dương Ngọc Xuân Huệ, sinh ngày 26/01/1995 và Dương Ngọc Phương Nhi, sinh ngày 01/11/2007. Tại đơn khởi kiện đề ngày 21/3/2022, bà Lê Thị Phương Quyên yêu cầu ly hôn với ông Dương Xuân Phúc; về con chung, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung chưa thành niên là Dương Ngọc Phương Nhi, hai con Xuân Vy và Xuân Huệ đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; bà không yêu cầu ông Dương Xuân Phúc cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung, nợ chung bà không yêu cầu Tòa án giải quyết. Quá trình giải quyết vụ án ghi nhận những vấn đề sau đây: Tại Bản khai ngày 12/4/2022, nguyên đơn trình bày: Cuộc sống hôn nhân của ông bà không hạnh phúc do thường xuyên mâu thuẫn bất đồng quan điểm. Hai bên ly thân từ năm 2007. Tháng 9/2020, bị đơn bỏ nhà đi đến kinh doanh tại quận Bình Thạnh và không còn qua lại với nhau đến nay. Nguyên đơn xác định tình cảm vợ chồng đã không còn nên yêu cầu ly hôn với bị đơn. Tại các đơn cùng đề ngày 12/4/2022, nguyên đơn đề nghị không tiến hành hòa giải và xét xử vắng mặt. Bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến các phiên xét xử nên không ghi nhận được ý kiến, không thể tiến hành hòa giải. Tại phiên tòa, Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về tố tụng, Thẩm phán, những người tiến hành tố tụng khác và nguyên đơn đã thực hiện đúng thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn đã không thực hiện đúng các quy định của pháp luật; về nội dung, đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH

Nguyên đơn yêu cầu ly hôn, giải quyết vấn đề về con chung nên quan hệ pháp luật là Ly hôn, tranh chấp nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Theo trả lời xác minh của Công an Phường 13, quận Bình Thạnh thì ông Dương Xuân Phúc có đăng ký tạm trú tại số 179/42/12 đường Trục, Phường 13, quận Bình Thạnh và có địa chỉ nơi làm việc tại 156 Nơ Trang Long (nay là Đặng Thùy Trâm), Phường 13, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh.

Để đảm bảo thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng, theo xác minh của Công an Phường 13, quận Bình Thạnh, Tòa án đã triệu tập bị đơn tại địa chỉ cư trú 179/42/12 đường Trục, Phường 13, quận Bình Thạnh; địa chỉ làm việc tại số 156 Nơ Trang Long (nay là Đặng Thùy Trâm), Phường 13, quận Bình Thạnh và địa chỉ liên lạc tại 41 Lương Minh Nguyệt, tổ dân phố 3, khu phố 1, phường Tân Thới Hòa, quận Tân Phú. Các lần triệu tập đều hợp lệ. Tòa án mở phiên tòa lần thứ ba, nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn cố tình vắng mặt, không có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, không vì sự kiện bất khả kháng và trở ngại khách quan. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết vắng mặt các đương sự.

Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ về tình trạng cư trú, tình trạng hôn nhân của các đương sự theo đúng quy định của pháp luật. Các tài liệu, chứng cứ do đương sự giao nộp và do Tòa án thu thập được ghi nhận trong Biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 17/6/2022.

Do bị đơn không gửi văn bản trình bày ý kiến, không giao nộp tài liệu, chứng cứ nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu do nguyên đơn giao nộp và do Tòa án thu thập để giải quyết vụ án.

Theo giấy chứng nhận kết hôn số 338/QH quyển số 01 đăng ký ngày 08/10/1990 tại của UBND quận Bình Thạnh thì có căn cứ xác định hôn nhân giữa các đương sự là hợp pháp.

Xét, hôn nhân của nguyên đơn, bị đơn tồn tại trong thời gian từ 1990 đến 2007 thì phát sinh mâu thuẫn, cuộc sống chung không hạnh phúc. Theo nguyên đơn trình bày do bất đồng quan điểm nên vợ chồng thường xuyên cãi cọ, xung đột với nhau khiến cuộc sống xáo trộn. Nguyên đơn yêu cầu không tiến hành hòa giải, điều này thể hiện tình cảm vợ chồng đã hết, không thể tiếp tục duy trì mối quan hệ hôn nhân. Về phía bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án chứng tỏ đã từ bỏ các quyền và nghĩa vụ của mình, không có thiện chí hàn gắn, đoàn tụ với nguyên đơn.

Theo trả lời xác minh của UBND Phường 15, quận Bình Thạnh thì Hội đồng xét xử nhận thấy mặc dù địa phương chưa nhận được yêu cầu hòa giải mâu thuẫn nào giữa các đương sự nhưng cuộc sống gia đình nhất thiết phải có sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau giữa các thành viên. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình nhưng nguyên đơn, bị đơn không thực hiện đúng và đủ trách nhiệm. Hiện nay, hai bên đương sự mỗi người ở một nơi, không còn quan tâm đến nhau để xây dựng gia đình hạnh phúc. Đương sự xác định không còn tình cảm vợ chồng và yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét trình bày của nguyên đơn phù hợp với các tài liệu mà Tòa án thu thập được. Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn. [6] Về con chung: Theo các bản sao giấy khai sinh số 1070 đăng ký ngày 16/10/1990 tại UBND quận Bình Thạnh của bà Dương Ngọc Xuân Vy, số 2514/1996-TH đăng ký ngày 05/10/1996 tại UBND quận Tân Bình của bà Dương Ngọc Xuân Huệ, số 765 đăng ký ngày 26/12/2007 tại UBND phường Tân Qúy, quận Tân Phú của trẻ Dương Ngọc Phương Nhi thì có căn cứ xác định các đương sự có ba con chung, hai con lớn đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với trẻ Phương Nhi, nguyên đơn yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng. Xét trẻ Nhi hiện đang ở với nguyên đơn, nên Hội đồng xét xử giao con cho nguyên đơn tiếp tục nuôi dưỡng phù hợp với điều kiện thực tế và quyền lợi của trẻ. [7] Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con. [8] Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. [9] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự. [10] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn về việc ly hôn, nuôi con chung là có căn cứ, phù hợp với các quy định của pháp luật. Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 63, 147, 227, 228, 235, 238, 266, 271, 273, 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ vào Điều 56, 81, 82, 83, 84, 85 của Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; 1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Bà Lê Thị Phương Quyên và ông Dương Xuân Phúc ly hôn. Giấy chứng nhận kết hôn số 338/QH quyển số 01 đăng ký ngày 08/10/1990 tại Ủy ban nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh của bà Lê Thị Phương Quyên và ông Dương Xuân Phúc hết hiệu lực kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Giao cho bà Lê Thị Phương Quyên trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Dương Ngọc Phương Nhi, sinh ngày 01/11/2007. Ông Dương Xuân Phúc có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

3. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Lê Thị Phương Quyên không yêu cầu ông Dương Xuân Phúc cấp dưỡng nuôi con.

Vì lợi ích của con chưa thành niên, khi cần thiết, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con, hạn chế quyền của cha mẹ đối với con.

4. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết.

5. Án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Lê Thị Phương Quyên phải chịu án phí trong vụ án ly hôn là 300,000 (ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300,000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu số 0000879 ngày 22/3/2022 của Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thạnh. Đương sự đã nộp đủ án phí.

Bà Lê Thị Phương Quyên, ông Dương Xuân Phúc có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ