vanban.org

Bản án 183

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Bị cáo Đặng Kim T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Toµ ¸n nd quËn TÂY HỒ
thµnh phè hµ néi
______________________
B¶n ¸n sè: 183/2021/HSST
Ngµy: 25/11/2021

Nh©n"danh"""

N­íc"céng"hoµ"x·"héi"chñ"nghÜa"viÖt"nam"

Toµ"¸n"nh©n"d©n"quËn"TÂY!HỒ"

**********"

Víi!thµnh!phÇn!Héi!®ång!xÐt!xö!s¬!thÈm!gåm!cã:!

ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ: Bà!Nguyễn!Thu!Huyền!

C¸c Héi thÈm nh©n d©n: 1. Ông Nguyễn Như Bình

2. Bà Đỗ Ngọc Linh

Th­ ký Toµ ¸n ghi biªn b¶n phiªn toµ: Ông Ngô Hoàng Hà – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tây Hồ

§¹i diÖn ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n quËn Tây!Hồ: Ông Lê Khắc Minh - KiÓm s¸t viªn. "

Ngày 25 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Tây Hồ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 206/2021/HSST ngày 02 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:

Hä vµ tªn: Đặng!Kim!T, giới tính: Nữ, sinh năm: 1970; HKTT: Số 6 ngõ 1 C Đ, phường B, quận T, Hà Nội; Chỗ ở: không cố định; Văn hóa: 5/12; Nghề nghiệp: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Đặng Văn L (đã chết) và bà Vũ Thị B (sinh năm: 1934); Có chồng là Hà Việt H (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2000.

Theo danh chỉ bản số 185 lập ngày 01/6/2021 tại Công an quận Tây Hồ, Hà Nội thì bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích.

- Ngày 26/01/2018, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội xử phạt 04 năm tù về tội Vận chuyển trái phép chất ma túy. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/01/2021.!

Tạm giữ ngày 24/5/2021; Tạm giam ngày 02/6/2021.

Có mặt tại phiên tòa.

Néi"dung"vô"¸n"

Khoảng 19h30’ ngày 24/05/2021, Đặng Kim T điều khiển xe máy nhãn hiệu Nouvo màu đen BKS: 29X5-8705 đến Hồ Tây hóng mát. Khi đi đến khu vực trước cửa chung cư ngõ 66 V T, phường B, quận T, Hà Nội, T bị cơ quan công an kiểm tra hành chình. Quá trình kiểm tra, T không xuất trình được giấy tờ tùy thân và giấy tờ xe. Tổ công tác đã phát hiện ở trong túi áo ngoài phía trước bên phải T đang mặc có 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa tinh thể màu hồng và 01 ống nhựa màu xanh đã qua sử dụng. T khai nhận tinh thể màu hồng là ma túy tổng hợp của T. Cơ quan công an đã tiến hành lập biên bản, tạm giữ niêm phong tang vật rồi đưa T cùng phương tiện, tang vật về trụ sở công an phường B để làm rõ.

Quá trình làm việc tại cơ quan công an, T thành khẩn khai nhận hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy của mình. Mục đích cất giấu ma túy để sử dụng cho bản thân. Xét nghiệm nước tiểu của T cho kết quả dương tính với ma túy tổng hợp, âm tính với Thai.

Về số ma túy bị thu giữ, T khai nhận được bạn xã hội tên H cho vào ngày 22/05/2021, H khoảng 30 tuổi, người cao gầy khoảng 1m60, mặc áo phông cộc tay và quần bò tối màu. T không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của H. Cơ quan công an đã tiến hành dẫn giải T để xác định vị trí T được cho ma túy. Kết quả chỉ xác định được vị trí T được cho ma túy là tại khu vực trước cổng chùa Sải, phường B, quận T, TP. Hà Nội, không xác định được đối tượng nam giới tên H. Do vậy không có căn cứ để xử lý đối với đối tượng tên H đã cho T ma túy.

Thu giữ của Đặng Kim T: 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa tinh thể màu hồng; 01 ống nhựa màu xanh đã qua sử dụng; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Nouvo màu đen BKS: 29X5- 8705 đã qua sử dụng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen đã qua sử dụng, không kiểm tra Imei và chất lượng bên trong; Số tiền 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng).

Kết luận giám định số 4323 ngày 31/05/2021!của phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hà Nội xác định: số ma túy thu giữ của Đặng Kim T là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0,254 gam. Một ống nhựa màu xanh dính ma túy loại Methamphetamine.

Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của T trước khi bị bắt tại số 27 ngõ 29 V T, phường B, quận T, Hà Nội, kết quả không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Nouvo màu đen BKS 29X5- 8705, SK *027803; SM *27803 thu giữ của T, T khai mượn của người bạn xã hội tên V vào khoảng tháng 2/2021 ở khu vực chùa Sải, phường B, quận T, Hà Nội.

Cơ quan Điều tra đã rà soát khu vực trên, kết quả không xác định được người nam giới tên V cho T mượn xe máy. Tiến hành xác minh BKS 29X5-8705 được đăng ký dưới tên Nguyễn Thị B (địa chỉ 10B, L X, xã N, huyện Sóc Sơn). Giám định số khung, số máy chiếc xe máy trên là số nguyên thủy. Tra cứu biển kiểm soát và số khung, số máy không có trong dữ liệu xe vật chứng

Tiến hành ghi lời khai chị Nguyễn Thị B xác định năm 2007 chị B có mua và đăng ký 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda BKS 29X5- 8705, hiện tại chị B vẫn đang sử dụng chiếc xe. Chị B không biết BKS 29X5- 8705 mà cơ quan công an thu giữ là của ai, ở đâu và chị không có yêu cầu gì với chiếc biển kiểm soát mà cơ quan công an thu giữ.

Cơ quan công an đã ra quyết định tách rút tài liệu liên quan đến chiếc xe máy trên để tiếp tục làm rõ sau.

Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen đã qua sử dụng và số tiền 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) là tài sản của Đặng Kim T.

Cáo trạng số 201/CT-VKS ngày 02/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận Tây Hồ truy tố Đặng Kim T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Kim T khai nhận hành vi phạm tội như đã khai tại cơ quan điều tra. Bị cáo khẳng định tàng trữ ma túy để sử dụng ngoài ra không có mục đích gì khác và xin được giảm nhẹ mức án.

Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà, sau khi phân tích tính chất hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS - xử lý bị cáo Đặng Kim T mức án từ 20 đến 26 tháng tù và đề nghị Tòa án áp dụng mức hình phạt thấp nhất mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị, không phạt tiền bị cáo, tịch thu tiêu hủy ma túy, trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động và số tiền 600.000đ nhưng tạm giữ số tiền để đảm bảo thi hành án.

Sau!khi!nghiên!cứu!các!tài!liệu!có!trong!hồ!sơ!vụ!án!được!thẩm!tra!tại!phiên!tòa! và!căn!cứ!vào!kết!quả!tranh!tụng!tại!phiên!tòa,

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN!

[1]. Về các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Tây Hồ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Tây Hồ, Kiểm sát viên: trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

[2]. Về tội danh: Bị cáo khai nhận hành vi tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ và kết luận giám định, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20h30’ ngày 24/5/2021, Đặng Kim T đã có hành vi tàng trữ trong người 0,254g ma túy loại Methamphetamine thì bị phát hiện bắt giữ cùng tang vật tại trước Chung cư ngõ 66 V T, phường B, quận T, Hà Nội. Hành vi của bị cáo phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

[3]. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, bị cáo có bố đẻ là ông Đặng Văn L có nhiều thành tích trong chiến đấu và công tác nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Nhân thân bị cáo xấu, có 01 tiền án chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 bộ luật hình sự.

[4]. Trách nhiệm hình sự và hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước và gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo cần xử phạt tù giam nghiêm khắc để đảm bảo tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. Khi lượng hình cũng xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định của pháp luật. Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

[5]. Xử lý tang vật, án phí và quyền kháng cáo:

- Số ma túy đã thu giữ của Đặng Kim T là vật cấm lưu hành nên tịch thu để tiêu hủy;

- Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen đã qua sử dụng và số tiền 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) là tài sản của Đặng Kim T không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo.

- Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và được kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Từ!phân!tích,!nhận!định!trên,!

QUYẾT!ĐỊNH!

Tuyên!bố!bị!cáo!Đặng!Kim!T!phạm!tội!"Tàng!trữ!trái!phép!chất!ma!túy".!

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 277, Đều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án, lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Đặng" Kim" T" 20" (hai" mươi)" tháng" tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/5/2021.

Xử lý vật chứng:

-!Tịch!thu!tiêu!hủy: 01 bao niêm phong dán kín, có chữ ký của Đặng Kim T, chữ ký của giám định viên và dấu của cơ quan điều tra Công an quận Tây Hồ bên trong chứa ma túy loại Methamphetamine và 01 ống nhựa màu xanh thu giữ của Đặng Kim T.

- Trả! lại! cho! bị! cáo: 01 điện thoại di động OPPO màu đen đã qua sử dụng, không kiểm tra Imei và chất lượng bên trong.

- Trả lại cho bị cáo số tiền 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng) nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án về án phí.

Các tang vật hiện lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội, theo biên bản bàn giao tang vật, vật chứng ngày 25/10/2021.

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ