vanban.org

Bản án 183/2026/HSST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hà Nội, TP. Hà Nội Tuyên án 25/03/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

01 (một) điện thoại Iphone XS Max màu Gold, có số IMEI1: 357273091656118; IMEI2: 357273091811895; kèm theo 01 (một) sim thu giữ của Phạm Trí S.

01 (một) điện thoại Iphone 13 màu xanh đen có, có số IMEI1: 354038649413145, IMEI2: 354038649631936, kèm theo 01 (một) sim. 01 (một) điện thoại Iphone 12 ProMax màu đen có, có số IMEI1: 354876501206556, IMEI2: 354876501108737, kèm theo 01 (một) sim thu giữ của Dương Quang H1. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Trí S - Dương Quang H - mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 01 (một) điện thoại Iphone XS Max màu Gold, có số IMEI1: 357273091656118; IMEI2: 357273091811895; kèm theo 01 (một) sim thu giữ của Phạm Trí S.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 – HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 183/2026/HSST
Ngày: 25/3/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Đình Trung Các Hội thẩm nhân dân: 1/ bà Phạm Thị Hiền 2/ Bà Dương Thị Diễm

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Cảnh Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 1- Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1- Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thanh Vân

- Kiểm sát viên. Ngày 25 tháng 3 năm 2026, Tại Phòng xét xử trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Hà Nội, Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 122/2026/TLST-HS ngµy 11/02/2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 242/2026/QĐXXST-HS ngày 09/3/2026 đối với các bị cáo: + Phạm Trí S sinh năm 2004; Nơi thường trú: thôn T, xã N, tỉnh B; Chỗ ở: số 36 ngách 25/4 P, phường T, thành phố H; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Văn G và bà Dương Thị G; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bắt khẩn cấp ngày 06/10/2025; tạm giữ từ 06/10/2025 đến ngày 13/10/2025, từ ngày 15/10/2025 đến nay bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm số 01, Công an thành phố Hà Nội. (Có mặt tại phiên tòa). + Dương Quang H sinh năm 2002; Nơi thường trú: Thôn V, xã Q, tỉnh B; Chỗ ở: số 29 ngõ 4 Đ, phường P, thành phố H; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Ông Dương Văn N và bà Nguyễn Thị T; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bắt quả tang ngày 05/10/2025; tạm giữ từ 06/10/2025 đến ngày 13/10/2025, từ ngày 15/10/2025 đến nay bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm số 01, Công an thành phố Hà Nội. (Có mặt tại phiên tòa). Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Dương Văn N sinh năm 1974 (Có mặt). Nơi thường trú: Thôn V, xã Q, tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Bản thân Phạm Trí S (Sinh năm: 2004; Nơi thường trú: Thôn T, xã N, tỉnh Bắc Ninh) không có nghề nghiệp ổn định nên đã nảy sinh ý định mua Pod ma túy để bán kiếm lời. Ngày 09/09/2025, S có truy cập vào mạng xã hội Facebook và vào hội nhóm “Tìm việc làm S3”, S có đăng bài vào hội nhóm trên với nội dung “Mình cần tìm việc chạy vào buổi tối có thể chạy đến 22h hoặc 23h, hi vọng được thưởng thêm”. Sau đó người có tài khoản Facebook tên “Nguyễn Đ” nhắn tin riêng cho S qua Messenger của ứng dụng Facebook với nội dung “Em đang cần tìm việc à?”, S có trả lời lại thì chủ tài khoản “Nguyễn Đ” nói đang tuyển shipper chạy tối, S có hỏi về việc trả lương thì chủ tài khoản trên nói trả lương theo ngày và theo mỗi đơn ship được hưởng 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng) trên một đơn. S thấy được hưởng lợi nhuận cao nên S đã đồng ý nhận đi ship. Người đàn ông trên đã hướng dẫn S tải ứng dụng Signal về máy điện thoại của S và cho S số điện thoại để kết bạn, S đã lập tài khoản S1 tên là “Bâu”, khi lập xong S đã copy số điện thoại mà người đàn ông đó cho S vào mục tìm kiếm thì hiện tên "Thái H", S đã ấn thêm vào danh bạ. S và chủ tài khoản "Thái Hoàng" đã trao đổi về công việc ship, thì chủ tài khoản đã gửi cho S ảnh đơn hàng là son môi. S và "Thái Hoàng" thỏa thuận mỗi đơn S nhận được 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng) và thanh toán tiền hàng vào số tài khoản: 62429419289, ngân hàng T3, chủ tài khoản NGUYEN THI HUONG. Sau khi nhận hàng thì S phát hiện bên trong vỏ son môi có P nên S đã nhắn tin cho "Thái Hoàng" là “Cái này có phải son môi đâu anh, bán có làm sao không?” Thái H có trả lời là “Pod Chill, em đi ship thì không bị làm sao”. Khi đó "Thái H" bảo cho S được hưởng lợi thêm 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng) trên một đơn tổng cộng là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) trên một đơn và bảo S “nếu em kiếm được thêm khách thì anh cho em thêm tiền”. S hiểu Pod C trên làm ma túy và hỏi kiếm khách ở đâu thì “Thái Hoàng” đã hướng dẫn S đăng bài lên hội nhóm trên mạng xã hội Facebook có tên “Vape Pod Hà Nội”, S đã vào đăng bài có nội dung “Ship hỏa tốc Hà Nội, nhận hàng thanh toán”. Ngày 04/10/2025, S có bảo với “Thái H” gửi hàng sang cho S để cho S bán cho khách. "Thái Hoàng" có gửi ship đến cho S 10 (mười) chiếc pod ma túy. Khi nhận xong S đã xóa toàn bộ nội dung tin nhắn giữa S và "Thái Hoàng". Sau đó S liên hệ với Dương Quang H1 (Sinh năm: 2002; Nơi thường trú: Thôn V, xã Q, tỉnh Bắc Ninh) là em họ của S, rủ H1 cùng đi bán ma túy. S thỏa thuận sẽ chia cho H1 một nửa số tiền được hưởng lợi nên H1 đồng ý. Ngày 04/10/2025, H1 điểu khiển xe máy Honda Wave BKS: 98H1-319.45 cùng S đi giao 04 (bốn) Pod ma túy cho 04 (bốn) khách, cụ thể: + Lần 1: Khoảng 20h00, H1 đèo S đi bán ma túy cho một nam thanh niên khoảng 25 tuổi ở khu vực đầu ngõ A Cầu D, Hà Nội. S là người đưa ma túy cho H1 để giao ma túy cho nam thanh niên này. S là người trực tiếp liên lạc trao đổi với khách qua ứng dụng Zalo. Sau khi giao hàng xong S đã xóa toàn bộ nội dung tin nhắn trao đổi với khách mua ma túy. + Lần 2: Khoảng 20h30, H1 đèo S đi bán ma túy cho một nam thanh niên ở khu vực S, Hà Nội (S không nhớ địa chỉ cụ thể). S là người trực tiếp liên lạc trao đổi với khách qua ứng dụng Telegram. Sau khi giao hàng xong S đã xóa toàn bộ nội dung tin nhắn trao đổi với khách mua ma túy. + Lần 3: Khoảng 21h00, H1 đèo S đi bán ma túy cho một nam thanh niên tại khu vực T, Hà Nội (S không nhớ địa chỉ cụ thể). S là người đưa ma túy cho H1 để H1 giao ma túy cho nam thanh niên này. H1 là người trực tiếp liên lạc trao đổi với khách. Sau khi giao hàng xong H1 đã xóa toàn bộ nội dung tin nhắn trao đổi với khách mua ma túy. + Lần 4: Vào khoảng 21h35, H1 đèo S đi bán ma túy cho một nam thanh niên khoảng 28 tuổi, cao khoảng 1m80, dáng người bình thường tại khu vực đường đường 19/5, Hà Nội (S không nhớ địa chỉ cụ thể). S là người trực tiếp liên lạc trao đổi với khách qua ứng dụng Zalo. Sau khi giao hàng xong, người này đưa tiền mặt cho H1 và H1 đã đưa lại tiền luôn cho S, xong S đã xóa toàn bộ nội dung tin nhắn. Cả bốn lần mua bán ma túy trên, các đối tượng mua ma túy của S và H1 đều trả bằng tiền mặt nhưng vì đã xóa các tin nhắn giao dịch với khách nên cả S và H1 đều không nhớ cụ thể số tiền giao dịch của từng lần mua bán trên.

- Khoảng 13h00 ngày 04/10/2025, S trực tiếp đi giao 01 (một) Pod ma túy cho một nam thanh niên ở T, Hà Nội (S không nhớ địa chỉ cụ thể) với giá 850.000 đồng. S là người trực tiếp liên lạc trao đổi mua bán ma túy với người này qua Zalo. Sau khi giao hàng xong người này đã chuyển khoản tiền cho S vào tài khoản ngân hàng A số 10114481, chủ tài khoản tên HOANG VAN HAI, sau đó S đã xóa toàn bộ nội dung tin nhắn giữa S và người này.

Khoảng 12h00’ ngày 05/10/2025, S gọi cho H1 qua đầu ngõ B P, phường T, thành phố Hà Nội rồi đưa cho H1 05 (năm) chiếc pod chứa ma túy và bảo H1 tự đi ship khi có khách mua còn S đi về quê. Sau đó, S gửi cho H1 số điện thoại, thông tin các khách mua ma túy để H1 tự đi giao ma túy. Sau đó, H1 điểu khiển xe máy Honda Wave BKS: 98H1-319.45 tự mình đi giao 04 (bốn) Pod ma túy cho 04 (bốn) khách như sau: + Lần 1: vào khoảng 15h15, S nhắn tin cho H1 và bảo H1 giao 01 (một) Pod chứa ma túy đến cho một người có nick Zalo là "Thái" địa chỉ: CT6A KĐT Xa La, H, sử dụng số điện thoại 0989543611 với giá 850.000 đồng (tám trăm năm mươi nghìn đồng). + Lần 2: vào khoảng 19h28, S nhắn tin cho H1 bảo H1 giao 01 (một) Pod chứa ma túy đến cho một người có địa chỉ: ngách F ngõ A D, Hà Nội, sử dụng số điện thoại 0982698656 với giá 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng). + Lần 3: vào khoảng 20h24, S nhắn tin cho H1 bảo H1 giao 01 (một) Pod chứa ma túy đến cho một người có địa chỉ: số C ngõ A X, Hà Nội, sử dụng số điện thoại 0779561094 với giá 700.000 đồng (bảy trăm nghìn đồng). Ba lần giao ma tuý trên, các khách mua đều chuyển khoản tiền mua ma túy vào tài khoản ngân hàng A, chủ tài khoản tên HOANG VAN HAI cho S. + Lần 4: vào khoảng 20h43 ngày 05/10/2025, S nhắn tin cho H1 bảo H1 giao 01 (một) Pod chứa ma túy đến địa chỉ G H, Hà Nội cho người có số điện thoại 0583461692 với giá 850.000 đồng (tám trăm năm mươi nghìn đồng). Khi H1 đang đợi khách để giao ma túy tại trước số G H, phường N, thành phố Hà Nội thì bị tổ công tác công an phường N, thành phố Hà Nội lập biên bản phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong tang vật và đưa H1 về trụ sở để làm rõ. Tại cơ quan điều tra, Phạm Trí S và Dương Quang H1 đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như trên. Tang vật thu giữ của Dương Quang H1 (BL: 146)

- 02 (hai) hộp có chữ SI LIPSTICK kích thước (2x12,5)cm bên trong mỗi hộp có 01 (một) ống hình trụ có đường kính 1,5 cm cao 10,5 cm.

- 01 (một) xe mô tô Honda Wave màu xanh, đen, bạc mang BKS: 98H1-319.45, số khung: RLHJA3925LY016661; số máy: JA39E2017444

- 01 (một) điện thoại Iphone 12 ProMax màu đen có số IMEI1: 354876501206556, IMEI2: 354876501108737 chứa sim số: 0921606333

- 01 (một) điện thoại Nokia 105 màu xanh có số Seri1: 357332560144517; Seri2: 357332560144525. Tang vật thu giữ của Phạm Trí S (BL: 175) 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu Gold, số IMEI1: 357273091656118; IMEI2: 357273091811895; Sim số: 0865299228 (máy đã qua sử dụng) Tại bản kết luận giám định số 6986/KL-KTHS ngày 15/10/2025 của Phòng PC09 - C1 kết luận: 02 ống hình trụ bên trong 02 hộp có chữ SI LIPSTICK đều có ma túy loại MDMB-INACA và ma túy loại MDMB-4en-PINACA. (BL: 154)

Tại bản kết luận giám định bổ sung số 9035/KL-KTHS ngày 05/12/2025 của V - Bộ C2 kết luận:

- Khối lượng chất ma túy MDMB-4en-PINACA trong dụng cụ (Thuốc lá điện tử) gửi giám định là 0,003 gam.

- V chưa có mẫu chuẩn định lượng chất ma túy MDMB-INACA nên không xác định được khối lượng MDMB-INACA trong mẫu gửi giám định. (BL: 158)

Tại bản Kết luận giám định số 454/KL-KTHS ngày 13/01/2026 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu nhãn hiệu Honda Wave, đeo biển kiểm soát BKS: 98H1-319.45, có số khung: 016661; số máy: 2017444 là số nguyên thủy.

Qua xác minh đăng ký xe mang tên Dương Quang H1 và không có trong cơ sở dữ liệu xe vật chứng. Anh Dương Văn N (là bố đẻ Dương Quang H1) có ý kiến: Năm 2020, anh N có mua chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave trên, thời điểm mua xe anh N nhờ H1 đứng tên đăng kí xe. Anh Nghĩa là người sử dụng xe hàng ngày. Đến giữa năm 2024 anh N cho H1 mượn xe để sử dụng. H1 sử dụng chiếc xe trên để đi đâu, làm gì cụ thể anh N không biết. Tại Cơ quan điều tra, anh N đã xuất trình đăng ký xe và có đơn xin được trao trả lại chiếc xe trên. Hiện đã chuyển cơ quan thi hành án dân sự để xử lý vật chứng theo luật định.

Đối với các tang vật khác thu giữ của Phạm Trí S và Dương Quang H1: quá trình điều tra xác định có liên quan đến hành vi phạm tội của các bị can nên cơ quan điều tra chuyển sang cơ quan thi hành án dân sự để xử lý vật chứng theo luật định.

Đối với đối tượng bán ma túy cho Phạm Trí S, S khai nhận mua ma túy của một người có tài khoản ở trang mạng S1 là: "Thái Hoàng" và thỏa thuận thanh toán tiền mua ma túy vào tài khoản ngân hàng T3 số 62429419289. Quá trình xác minh Chủ tài khoản ngân hàng trên là chị Nguyễn Thị H2 (sinh năm: 2000; Nơi thường trú: thôn B, C, T, Hà Nội nay là thôn B thôn C, xã T, thành phố Hà Nội). Chị H2 mở tài khoản ngân hàng trên vào tháng 5/2024, nhưng chưa sử dụng lần nào, Sau đó, chị H2 bị tai nạn và mất hết giấy tờ tùy thân, thẻ ngân hàng, điện thoại. Chị H2 chưa làm lại thẻ ngân hàng trên và cũng không biết ai đang sử dụng số tài khoản ngân hàng của mình. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ. Còn đối tượng có tên “Thái Hoàng” quá trình điều tra không xác định được họ tên và địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xem xét xử lý.

Đối với các đối tượng mua ma túy của Phạm Trí S và Dương Quang H1, quá trình điều tra xác định các đối tượng sau:

- Đối tượng Nguyễn Quang T (Sinh năm: 1994; HKTT: An Biên, Đ, Quảng Ninh) có hành vi mua ma túy của Phạm Trí S và Dương Quang H1 để sử dụng, tuy nhiên đã sử dụng hết toàn bộ số ma túy đã mua, không còn cất giấu ma túy ở nơi nào khác. Kết quả xét nghiệm đối tượng dương tính với ma túy. Xác minh tại chính quyền địa phương, đối tượng T chưa có tiền án, tiền sự, không nằm trong diện quản lý người nghiện, người sử dụng ma túy, người quản lý sau cai nghiện. Ngày 26/01/2026, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố H đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Nguyễn Quang T về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy.

- Đối tượng Nguyễn Thế T1 (Sinh năm: 1990; HKTT: A B, Phường Ô, thành phố Hà Nội), T1 không nhận thức được Podchill mình đã mua là ma túy. Tuy nhiên, T1 đã sử dụng hết toàn bộ số ma túy đã mua, không còn cất giấu ma túy ở nơi nào khác. Kết quả xét nghiệm đối tượng âm tính với ma túy. Xác minh tại chính quyền địa phương, Nguyễn Thế T1 chưa có tiền án, tiền sự, không nằm trong diện quản lý người nghiện, người sử dụng ma túy, người quản lý sau cai nghiện. Cơ quan điều tra không đặt vấn đề xử lý đối với T1 là có căn cứ.

- Đối tượng Lê Đức G (Sinh năm: 1996; HKTT: Đồng Ké, T, C, Hà Nội), G có mua Podchill của S và H1 nhưng sau khi tìm hiểu và biết là ma túy nên đã vứt đi và không sử dụng, không cất giấu ma túy ở nơi nào khác. Kết quả xét nghiệm đối tượng âm tính với ma túy. Xác minh tại chính quyền địa phương, đối tượng G chưa có tiền án, tiền sự, không nằm trong diện quản lý người nghiện. Cơ quan điều tra không đặt vấn đề xử lý đối với G là có căn cứ.

Đối với các tài khoản mạng xã hội, Z có liên quan đến hành vi phạm tội các đối tượng, xác minh tài khoản Facebook "Tìm việc làm S3", "Nguyễn Đ", "V1" và thông tin tài khoản Signal tên "Bâu"; "Thái Hoàng"; thông tin tài khoản Telegram tên "The Bâus"; "Hoàng Tử"; tài khoản Zalo: "Lâm Nhi", "Thái", "Anh B", Cục P1, truyền hình và thông tin điện tử - Bộ V2, thể thao và du lịch Công ty V3 đều xác định không có thông tin, dữ liệu và không có biện pháp kỹ thuật để xác định các tài khoản mạng xã hội, zalo nêu trên. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ các đối tượng khác đã mua bán ma túy với S và H1.

Đối với tài khoản ngân hàng A, chủ tài khoản tên HOANG VAN HAI là tài khoản S dùng để nhận tiền của khách mua ma túy. Quá trình xác minh xác định: Chủ tài khoản ngân hàng trên là Hoàng Văn H3 (sinh năm: 2001; Nơi thường trú: S, T, Bắc Giang nay là thôn T, xã N, tỉnh Bắc Ninh). Tháng 05 năm 2024, H3 có mở tài khoản số 10114481 tại ngân hàng A nhưng sau đó H3 không có nhu cầu sử dụng tài khoản trên. S là bạn của H3, do S không có tài khoản và có nhu cầu mượn tài khoản của H3 để sử dụng nên H3 cho S mượn tài khoản đó từ đầu tháng 09/2025. Sau khi cho S mượn H3 không sử dụng tài khoản trên nữa. H3 không biết S sử dụng tài khoản trên vào mục đích vi phạm pháp luật. Cơ quan điều tra không đề cập vấn đề xử lý đối với Hoàng Văn H3 là có căn cứ. Tại bản cáo trạng số 263/CT-VKS-KV1 ngày 09/02/2026 của Viện Kiểm Sát nhân dân Khu vực 1- Hà Nội Truy tố: Bị cáo Phạm Trí Sơn, Dương Quang Huy về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025; Tại phiên tòa: Các Bị cáo đã khai nhận tội như đã khai tại cơ quan điều tra, Các Bị cáo thừa nhận bản cáo trạng truy bố các bị cáo đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện. Các Bị cáo nhận thức hành vi phạm tội của mình và xin xem xét giảm nhẹ hình phạt. Đại diện Viện Kiểm S2 tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với Các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử : Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025; Đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Trí S từ 07 năm, 06 tháng tù đến 08 năm tù; M hình phạt bổ sung là phạt tiền. Đề nghị xử phạt bị cáo Dương Quang H1 từ 07 năm tù đến 07 năm 06 tháng tù; Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền. Đề nghị: Buộc Phạm Trí S truy thu sung công quỹ nhà nước số tiền 2.350.000 đồng thu lời bất chính; Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy:

- 01 hộp niêm phong có chữ ký của giám định viên Đoàn Thị Lệ H4, cán bộ Công an Nguyễn Thị H5 và các hình dấu tròn màu đỏ của V, Bộ C2. Theo Kết luận giám định số 6986/KL – KTHS ngày 15/10/2025 của Phòng K - Công an thành phố H, Kết luận giám định số 9035/KL- KTHS ngày 05/12/2025 của V - Bộ C2 và các biên bản tạm giữ, niêm phong mở niêm phong, đóng gói niêm phong của Công an phường N và V - Bộ C2). Tịch thu sung công quỹ nhà nước:

- 01 (một) điện thoại Iphone XS Max màu Gold, có số IMEI1: 357273091656118; IMEI2: 357273091811895; kèm theo 01 (một) sim thu giữ của Phạm Trí S;

- 01 (một) điện thoại Iphone 13 màu xanh đen có, có số IMEI1: 354038649413145, IMEI2: 354038649631936, kèm theo 01 (một) sim thu giữ của Phạm Trí S;

- 01 (một) điện thoại Iphone 12 ProMax màu đen có, có số IMEI1: 354876501206556, IMEI2: 354876501108737, kèm theo 01 (một) sim thu giữ của Dương Quang H1;

- 01 (một) điện thoại Nokia 105 màu xanh, có số Seri: 357332560144517; Seri2: 357332560144525, kèm theo 01 (một) sim thu giữ của Dương Quang H1;

- 01 (một) xe mô tô Honda Wave màu xanh, đen, bạc mang BKS: 98H1-319.45, số khung: RLHJA3925LY016661; số máy: JA39E2017444 theo Kết luận giám định số 454/KL –KTHS ngày 13/01/2026 của Phòng K - Công an thành phố H, và các biên bản tạm giữ của Công an phường N thu giữ của Dương Quang H1. (Hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng chi cục thi hành án dân sự khu vực 1- Hà nội theo biên bản giao vật chứng số 214/KV1-2026 ngày 04/02/2026).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1- Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2025; Quá trình điều tra và tại phiên tòa Bị cáo Phạm Trí S, Dương Quang H1 không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của Bị cáo Phạm Trí S, Dương Quang H1 tại cơ quan điều tra và phù hợp với vật chứng đã thu giữ, phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21h15 ngày 05/10/2025, tại trước số G H, phường N, thành phố Hà Nội, Dương Quang H1 đã có hành vi Mua bán trái phép chất ma túy là 02 ống hình trụ bên trong 02 hộp có chữ SI LIPSTICK đều có ma túy loại MDMB-INACA và ma túy loại MDMB-4en-PINACA (khối lượng 0,003 gam), nguồn gốc số mua túy trên là của Phạm Trí S đưa cho H1 mang đi bán, mục đích để bán kiếm lời, khi H1 đang đứng đợi để giao ma túy cho khách thì bị tổ công tác Công an phường N, thành phố Hà Nội bắt quả tang cùng tang vật chứng. Quá trình điều tra xác định, Ngày 04/10/2025, Phạm Trí S đã cùng Dương Quang H1 bán ma túy 04 (bốn) lần cho các khách khác nhau, Phạm Trí S tự mình đi bán ma túy 01 (một) lần; Ngày 05/10/2025, Dương Quang H1 tự mình đi bán ma túy 04 (bốn) lần cho các khách do Phạm Trí S cung cấp thông tin, địa chỉ. Trong vụ án này, Phạm Trí S là người chủ mưu và cùng với Dương Quang H1 thực hiện hành vi phạm tội.

Hành vi của Bị cáo Phạm Trí S, Dương Quang H1 đã xâm phạm trật tự quản lý hành chính của cơ quan quản lý nhà nước về chất gây nghiện; Bị cáo Phạm Trí S, Dương Quang H1 có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi có ý trực tiếp; Hành vi của bị cáo Phạm Trí S, Dương Quang H1 đủ yếu tố cấu thành tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025;

. Viện kiểm sát truy tố bị cáo Phạm Trí S, Dương Quang H1 về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025 là có căn cứ, và đúng quy định của pháp luật.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa hôm nay và tại cơ quan điều tra bị cáo khai báo thành khẩn, thực sự ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025.

. Sau khi xem xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên, thấy cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhấn định mới có tác dụng giáo dục và cải tạo đối với các bị cáo.

. Về hình phạt bổ sung: Các Bị cáo là người không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, nên thấy cần miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy:

- 01 hộp niêm phong có chữ ký của giám định viên Đoàn Thị Lệ H4, cán bộ Công an Nguyễn Thị H5 và các hình dấu tròn màu đỏ của V, Bộ C2. Theo Kết luận giám định số 6986/KL – KTHS ngày 15/10/2025 của Phòng K - Công an thành phố H, Kết luận giám định số 9035/KL- KTHS ngày 05/12/2025 của V - Bộ C2 và các biên bản tạm giữ, niêm phong mở niêm phong, đóng gói niêm phong của Công an phường N và V - Bộ C2). Tịch thu sung công quỹ nhà nước:

- 01 (một) điện thoại Iphone XS Max màu Gold, có số IMEI1: 357273091656118; IMEI2: 357273091811895; kèm theo 01 (một) sim thu giữ của Phạm Trí S;

- 01 (một) điện thoại Iphone 13 màu xanh đen có, có số IMEI1: 354038649413145, IMEI2: 354038649631936, kèm theo 01 (một) sim thu giữ của Phạm Trí S;

- 01 (một) điện thoại Iphone 12 ProMax màu đen có, có số IMEI1: 354876501206556, IMEI2: 354876501108737, kèm theo 01 (một) sim thu giữ của Dương Quang H1;

- 01 (một) điện thoại Nokia 105 màu xanh, có số Seri: 357332560144517; Seri2: 357332560144525, kèm theo 01 (một) sim thu giữ của Dương Quang H1;

- 01 (một) xe mô tô Honda Wave màu xanh, đen, bạc mang BKS: 98H1-319.45, số khung: RLHJA3925LY016661; số máy: JA39E2017444 theo Kết luận giám định số 454/KL –KTHS ngày 13/01/2026 của Phòng K - Công an thành phố H, và các biên bản tạm giữ của Công an phường N thu giữ của Dương Quang H1. (Hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng chi cục thi hành án dân sự khu vực 1- Hà nội theo biên bản giao vật chứng số 214/KV1-2026 ngày 04/02/2026). Đề nghị: Buộc Phạm Trí S truy thu sung công quỹ nhà nước số tiền 2.350.000 đồng thu lời bất chính;

Về án phí: Căn cứ Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; Khoản 1 Mục I Danh mục mức án phí lệ phí Tòa án: Mỗi Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2017;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025; Căn cứ vào Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sủa đổi bổ sung năm 2025; Căn cứ vào Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; Khoản 1 Mục I Danh mục mức án phí lệ phí Tòa án. Tuyên bố Bị cáo: Phạm Trí S, Dương Quang H1 phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”; Xử phạt: Bị cáo Phạm Trí S 08 (Tám) năm, 06 (Sáu) tháng tù; Thời hạn tù tính từ ngày 06/10/2025. Xử phạt: Bị cáo Dương Quang H1 08 (T2) năm tù; Thời hạn tù tính từ ngày 05/10/2025. Miễn hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt tiền đối với các bị cáo: Phạm Trí S, Dương Quang H1; Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 hộp niêm phong có chữ ký của giám định viên Đoàn Thị Lệ H4, cán bộ Công an Nguyễn Thị H5 và các hình dấu tròn màu đỏ của V, Bộ C2. Theo Kết luận giám định số 6986/KL –KTHS ngày 15/10/2025 của Phòng K - Công an thành phố H, Kết luận giám định số 9035/KL- KTHS ngày 05/12/2025 của V - Bộ C2 và các biên bản tạm giữ, niêm phong mở niêm phong, đóng gói niêm phong của Công an phường N và V - Bộ C2). Tịch thu sung công quỹ nhà nước:

- 01 (một) điện thoại Iphone XS Max màu Gold, có số IMEI1: 357273091656118; IMEI2: 357273091811895; kèm theo 01 (một) sim thu giữ của Phạm Trí S.

- 01 (một) điện thoại Iphone 13 màu xanh đen có, có số IMEI1: 354038649413145, IMEI2: 354038649631936, kèm theo 01 (một) sim.

- 01 (một) điện thoại Iphone 12 ProMax màu đen có, có số IMEI1: 354876501206556, IMEI2: 354876501108737, kèm theo 01 (một) sim thu giữ của Dương Quang H1.

- 01 (một) điện thoại Nokia 105 màu xanh, có số Seri: 357332560144517; Seri2: 357332560144525, kèm theo 01 (một) sim thu giữ của Dương Quang H1.

- 01 (một) xe mô tô Honda Wave màu xanh, đen, bạc mang BKS: 98H1-319.45, số khung: RLHJA3925LY016661; số máy: JA39E2017444 theo Kết luận giám định số 454/KL –KTHS ngày 13/01/2026 của Phòng K - Công an thành phố H, và các biên bản tạm giữ của Công an phường N). (Hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng Phòng thi hành án dân sự khu vực 1- Hà nội theo biên bản giao vật chứng số 214/KV1-2026 ngày 04/02/2026). Buộc Phạm Trí S truy thu sung công quỹ nhà nước số tiền 2.350.000 đồng thu lời bất chính; Về án phí: Mỗi Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Các Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ