vanban.org

Bản án 183/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 20/08/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đắc V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đắc V 04 (Bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 13/5/2026. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đắc V - Tàng trữ trái phép chât ma tuý - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 - NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 183/2026/HS-ST
Ngày 20 tháng 8 năm 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Văn An.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bích Nguyệt và ông Phạm Quốc Tuấn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 8 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - N sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 169/2026/TLST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 178/2026/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2026 đối với bị cáo:

Nguyễn Đắc V, sinh năm 1986, tại tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Thôn Đ, xã N, tỉnh Ninh Bình (nay là thôn A, xã N, tỉnh Ninh Bình); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đắc T và bà Trần Thị L; có vợ là Đinh Thị T1 (đã ly hôn) và 02 con (lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2010); tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 04/8/2016 Công an phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định (cũ) xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; ngày 11/7/2016, Công an thành phố P, tỉnh Hà Nam (cũ) xử phạt hành chính về hành vi “Cất giấu trái phép chất ma túy”; ngày 23/01/2017, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội ra Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng; ngày 28/7/2022 Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam (cũ) xử phạt 27 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/5/2026 và chuyển tạm giam từ ngày 22/5/2026 đến nay; có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

+ Người chứng kiến: Ông Lê Đức P, sinh năm 1962; nơi cư trú: Thôn Đ, xã N, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 13/5/2026, Tổ Cảnh sát Phòng chống tội phạm, Công an xã N, tỉnh Ninh Bình đang làm nhiệm vụ trên đường Q, phát hiện Nguyễn Đắc V, sinh năm 1986 trú tại thôn Đ (nay là thôn A M), xã N, tỉnh Ninh Bình đang đi bộ vào khu vực nghĩa trang thuộc địa phận thôn Đ (nay là thôn A M), xã N, tỉnh Ninh Bình có nhiều biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra hành chính đối với V. Quá trình kiểm tra phát hiện trong tay trái V đang cầm 01 gói giấy bạc bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục. Tại chỗ, V khai chất bột màu trắng dạng cục trong gói giấy bạc là ma tuý, loại Heroine, vừa mua của một người đàn ông không quen biết ở xã L, tỉnh Ninh Bình và cất giữ để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Đắc V, thu giữ 01 gói giấy bạc chứa chất bột màu trắng dạng cục (được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT), đồng thời đưa Nguyễn Đắc V về trụ sở Công an xã N, tỉnh Ninh Bình để làm việc. Lực lượng Công an đã tiến hành thu giữ mẫu nước tiểu của Nguyễn Đắc V vào chai nhựa, niêm phong ký hiệu NT01.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Đắc V tại thôn Đ (nay là thôn A M), xã N, tỉnh Ninh Bình, Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh N không thu giữ đồ vật, tài sản nào liên quan đến vụ án.

* Tại Bản kết luận giám định số 2317/KL-KTHS ngày 19/5/2026 của Phòng K - Công an tỉnh N kết luận: “Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,248g (Không phẩy hai trăm bốn mươi tám gam), loại Heroine (H)”.

* Tại Bản kết luận giám định số 2318/KL-KTHS ngày 19/5/2026 của Phòng K - Công an tỉnh N kết luận: “Không tìm thấy chất ma túy thường gặp trong mẫu nước tiểu ký hiệu NT01 (ghi thu của Nguyễn Đắc V, sinh năm 1986, trú tại thôn Đ, xã N, tỉnh Ninh Bình) gửi giám định”. M đã sử dụng hết để giám định.

*Về nguồn gốc chất ma túy, theo Nguyễn Đắc V khai: Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 13/5/2026, V đang đi bộ trên đường bê tông từ xã C (cũ) đi xã H (cũ) nay là xã L, tỉnh Ninh Bình thì gặp một người đàn ông khoảng 50 tuổi (không rõ nhân thân, lai lịch) và hỏi mua của người này 500.000 đồng ma túy được đựng trong một gói giấy bạc. V cầm gói giấy bạc chứa ma túy rồi đi bộ về khu vực nghĩa trang thuộc thôn Đ (nay là thôn A M), xã N, tỉnh Ninh Bình để sử dụng thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang.

* Về vật chứng: Số Heroine được Phòng K - Công an tỉnh N hoàn trả sau giám định được niêm phong trong phong bì số 2317/KTHS ghi “Mẫu vật hoàn trả QT” đã được chuyển đến Phân trại tạm giam Vĩnh Trụ thuộc Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh N.

* Quá trình điều tra Nguyễn Đắc V đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện.

Tại bản cáo trạng số 109/CT-VKS-KV6 ngày 30 tháng 7 năm 2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình đã truy tố Nguyễn Đắc V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Tại phiên toà sơ thẩm hôm nay:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - N: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo tội danh và khung hình phạt như bản cáo trạng, không có ý kiến sửa đổi hoặc bổ sung. Sau khi phân tích, đánh giá toàn diện vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử (Sau đây viết tắt là: HĐXX): Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025): Xử phạt Nguyễn Đắc V từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm 03 tháng tù; không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung (là phạt tiền) đối với bị cáo, đồng thời đề xuất hướng xử lý vật chứng của vụ án.

- Bị cáo Nguyễn Đắc V đã thừa nhận và khai báo toàn bộ diễn biến hành vi cất giấu trái phép chất ma tuý của bản thân vào ngày 13/5/2026 đúng như nội dung bản cáo trạng đã mô tả. Bị cáo xác định rõ việc cất giấu số ma tuý trên là để sử dụng cho bản thân, không có bất kỳ mục đích nào khác; bị cáo không có ý kiến tranh luận, bào chữa hay khiếu nại gì, bản thân đã nhận thức rõ sai phạm và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục và căn cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong các giai đoạn tố tụng đã thực hiện và ban hành đều hợp pháp, tuân thủ các nguyên tắc tố tụng, cũng như đảm bảo việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm được giao theo quy định.

Đối với người tham gia tố tụng là người chứng kiến vắng mặt tại phiên toà, HĐXX xét thấy đã có đầy đủ lời khai của người này, được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với diễn biến nội dung vụ án được chứng minh tại biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định về ma tuý cũng như chính lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, ngoài ra còn phù hợp với lời khai của người tham gia tố tụng khác cùng các tài liệu, chứng cứ khác lưu được thu thập theo trình tự luật định, phản ánh đúng sự thật khách quan của vụ án.

Như vậy, đủ cơ sở pháp lý để kết luận: Hồi 11 giờ 30 phút ngày 13/5/2026, tại thôn Đ, xã N, tỉnh Ninh Bình (nay là thôn A, xã N, tỉnh Ninh Bình), Nguyễn Đắc V đang có hành vi cất giữ trái phép 0,248g (Không phẩy hai trăm bốn mươi tám) gam chất ma tuý, loại Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Tổ công tác Công an xã N, tỉnh Ninh Bình phát hiện, bắt quả tang.

Hành vi nêu trên của Nguyễn Đắc V đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt đươc quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về hình phạt:

- Về hình phạt chính: Hành vi phạm tội của Nguyễn Đắc V là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với chất ma tuý, ảnh hưởng xấu tới tình hình an ninh trật tự tại địa phương, làm xã hội mất ổn định. Bản thân bị cáo là người có nhân thân rất xấu, cụ thể: Từ năm 2016 đến năm 2022 bị cáo đã 02 lần bị xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” và “Cất giấu trái phép chất ma túy”, 01 lần bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và có 01 tiền án 27 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Tiền án và các tiền sự đều đã được xoá), nhưng bị cáo vẫn không lấy đó làm bài học kinh nghiệm để tu sửa bản thân, sau khi mãn hạn tù vẫn tiếp tục sa vào nghiện ngập ma tuý, ngày càng lao sâu vào con đường phạm tội, thể hiện sự thách thức và coi thường luật pháp. Vì vậy, cần thiết phải áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân lương thiện, cũng như tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm chung trong cộng đồng, đặc biệt là tội phạm về ma tuý trong tình hình hiện nay trên địa bàn.

+ Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

+ Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa Nguyễn Đắc V đều thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, phần nào thể hiện sự ăn năn hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. HĐXX sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo yên tâm cải tạo, sớm tái hòa nhập cộng đồng, cũng như thấy được tính nhân đạo của pháp luật đối với người phạm tội.

Xét thấy cần tiếp tục tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án hình sự nên quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án theo Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện, hoàn cảnh, tình hình kinh tế và mục đích phạm tội của bị cáo nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại Điều 35 và khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự như quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Số ma tuý thu giữ trong vụ án được niêm phong trong 01 (Một) phong bì dán kín, niêm phong có số 2317/KTHS ghi “Mẫu vật hoàn trả QT” của Phòng K - Công an tỉnh N hoàn trả sau giám định, là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, nên tịch thu và tiêu huỷ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Về các vấn đề khác: Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Nguyễn Đắc V như bị cáo đã khai, HĐXX thấy do chỉ có duy nhất lời khai của bị cáo, ngoài ra không có bất cứ tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh, nên Cơ quan CSĐT không có căn cứ điều tra, xác minh làm rõ để xử lý người này theo quy định của pháp luật, do đó HĐXX không đề cập.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đắc V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đắc V 04 (Bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 13/5/2026.

2. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu và tiêu huỷ: 01 (Một) Phong bì số 2317/KTHS được niêm phong dán kín, mặt trước có ghi “Mẫu vật hoàn trả QT” của Phòng K - Công an tỉnh N.

(Vật chứng có đặc điểm, tình trạng, số hiệu được ghi trong biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng lập ngày 08/6/2026 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tình N và P1 trại tạm giam Vĩnh Trụ thuộc Trại tạm giam số 02 Công an tỉnh N.

3. Căn cứ Điều 135, 136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án

- Bị cáo Nguyễn Đắc V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

- Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 4,6 và Điều 7 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ