vanban.org

Bản án 183/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng vào khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của anh Cao Văn Cu Đ. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Cao Văn Cu Đ và chị Trần Thị V. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đ - V"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng vào khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 - AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 183/2026/HNGĐ-ST
Ngày 27-7-2026
“V/v Ly hôn giữa anh Đ và chị V”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7- AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Thơm

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Ngọc Duyên và bà Trần Thu Trang.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mau - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7- An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7- An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Toàn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 225/2026/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2026 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 217/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 191/2026/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2026, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Cao Văn Cu Đ, sinh năm 1985

Địa chỉ: Ấp X, xã T, tỉnh An Giang. (Có mặt).

2. Bị đơn: Chị Trần Thị V, sinh năm 1987

Địa chỉ: Ấp X, xã T, tỉnh An Giang. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và những ý kiến tại Tòa án, anh Cao Văn Cu Đ trình bày nhƣ sau:

Anh Đ và chị Vchung sống với nhau vào năm 2006 trên cơ sở tự nguyện và thực hiện đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Tây Yên, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang vào ngày 04/01/2008.

Vợ chồng chung sống đến năm 2025 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do chị V không lo làm kinh tế gia đình, không lo chăm sóc con, đi chơi với bạn bè, và quan hệ ngoại tình với người đàn ông khác bên ngoài. Từ đó vợ chồng thường xuyên xảy ra cự cãi bất đồng, anh Đ đã khuyên ngăn nhiều lần nhưng chị V không thay đổi. Từ năm 2025 chị Vbỏ chồng con đi nơi khác và chặn mọi nguồn liên lạc với gia đình. Đến nay anh Đ nhận thấy cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc và không thể tiếp diễn nên đề nghị Toà án giải quyết cho ly hôn với chị V.

Về con chung: Anh Đ xác định vợ chồng có 02 người con chung là Cao Quốc K sinh ngày 07/7/2007 (đã trưởng thành và phát triển bình thường) và Cao Trần Phương A, sinh ngày 31/8/2012 hiện đang sống với anh Đ. Anh Đ có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu Cao Trần Phương A sau khi ly hôn và không yêu cầu chị V cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung của vợ chồng và nợ chung của vợ chộng: Anh Đ xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình làm việc tại Tòa án và tại phiên tòa - bị đơn chị Trần Thị V đã đƣợc triệu tập hợp lệ nhƣng vắng mặt không có lý do và không gửi văn bản trình bày ý kiến trƣớc yêu cầu xin ly hôn của anh Đen.

Ý kiến trình bày của con chung: Cháu Cao Trần Phương A có nguyện vọng được sống với cha sau khi cha mẹ ly hôn.

Thu thập chứng cứ: Nguyên đơn cung cấp Giấy chứng nhận kết hôn (Bản sao), giấy căn cước (Bản sao), giấy khai sinh của con chung vợ chồng. Bị đơn không cung cấp chứng cứ.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đảm bảo đúng theo quy định. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 56, Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, xử cho anh Đ ly hôn với chị V; về con chung đối với cháu Cao Quốc K sinh ngày 07/7/2007 hiện đã trưởng thành không xem xét trách nhiệm nuôi dưỡng và cấp dưỡng và giao cháu Cao Trần Phương A cho anh Đ tiếp tục nuôi dưỡng, các đương sự không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét; về tài sản chung và nợ chung vợ chồng không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng

Thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn xã Tây Yên, tỉnh An Giang. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 - An Giang.

Quan hệ pháp luật: Anh Đ yêu cầu ly hôn với chị Vui và yêu cầu giải quyết về con chung khi ly hôn nên quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”.

Sự vắng mặt của bị đơn tại phiên toà: Chị V được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai không có lý do, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị V.

Về nội dung vụ án

Xét yêu cầu xin ly hôn của anh Đ, Hội đồng xét xử xét thấy:

Anh Đ và chị V chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tây Yên, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang cũ theo quy định của pháp luật, do đó hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp.

Qua lời trình bày của anh Đ và kết quả xác minh từ chính quyền địa phương có cơ sở để xác định quá trình chung sống đời sống hôn nhân của anh Đ và chị Vđã phát sinh mâu thuẫn do chị V không lo làm kinh tế gia đình, không lo chăm sóc con, hay đi chơi với bạn bè, có quan hệ ngoại tình với người đàn ông khác. Mặc dù chồng khuyên ngăn nhưng chị V không thay đổi và sau đó còn bỏ nhà đi nơi khác rồi chặn liên lạc với gia đình. Hiện tại vợ chồng đã sống ly thân không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau và cả hai cùng không có thiện chí hàn gắn hôn nhân. Từ đó có cơ sở để nhận định mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử thống nhất giải quyết cho anh Đ ly hôn với chị V.

Về con chung: Anh Đ và chị Vcó hai người con chung, đối với cháu Cao Quốc K sinh ngày 07/7/2007 hiện đã trưởng thành và phát triển bình thường nên không xem xét trách nhiệm nuôi dưỡng và cấp dưỡng, đối với cháu Cao Trần Phương A sinh ngày 31/8/2012 có nguyện vọng sống với cha nhận thấy từ khi anh Đ và chị V ly thân cho đến nay cháu Phương A sống với cha có cuộc sống ổn định và phát triển bình thường, anh Đ hiện là công nhân có thu nhập ổn định đảm bảo việc nuôi dưỡng con chung do đó Hội đồng xét xử thống nhất giao cháu Cao Trần Phương A cho anh Đ tiếp tục nuôi dưỡng sau khi vợ chồng ly hôn.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận ý kiến của anh Đ không yêu cầu chị Vcấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn.

Về tài sản chung của vợ chồng: Các đương sự không có yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.

Về nợ chung của vợ chồng: Anh Đ xác định không có, không ai có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Căn cứ Điều 144 và Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc anh Đ là nguyên đơn chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng được khấu trừ vào tiền nộp tạm ứng án phí.

Về ý kiến phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng và đề nghị hướng giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - An Giang tại phiên tòa là có cơ sở và căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử đã xem xét và ghi nhận trong quá trình giải quyết vụ án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân gia và đình năm 2014;

- Áp dụng vào khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của anh Cao Văn Cu Đ.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Cao Văn Cu Đ và chị Trần Thị V.

2. Về con chung:

Con chung tên Cao Quốc K, sinh ngày 07/7/2007 đã trưởng thành và phát triển bình thường nên không xem xét trách nhiệm nuôi dưỡng và cấp dưỡng.

Giao cháu Cao Trần Phương A, sinh ngày 31/8/2012 cho anh Cao Văn Cu Đ nuôi dưỡng sau khi anh Cao Văn Cu Đ và chị Trần Thị V ly hôn.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận ý kiến của anh Cao Văn Cu Đ không yêu cầu chị Trần Thị V cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền đến thăm nom và chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Khi cần thiết anh, chị có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung: Anh Cao Văn Cu Đ và chị Trần Thị V không có yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

4. Về nợ chung: Anh Cao Văn Cu Đ xác định không có, không ai có yêu cầu nên không xem xét.

5. Về án phí: Anh Cao Văn Cu Đ có nghĩa vụ nộp tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 305085 ngày 14/4/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang. Anh Cao Văn Cu Đ đã nộp đủ án phí.

6. Báo quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

"Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 8 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật thi hành án dân sự"./.

Cỡ chữ