- Tranh chấp gì? án hình sự — "BA 183.2025.HSST NGAY 28.11.2025 - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1]. Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 38; điểm i, o, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 183 /2025/HSST Ngày: 28 - 11 - 2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Mai Thùy.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Lê Thị Thu Hương.
2/ Bà Nguyễn Thị Ngọc Mỹ.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Bùi Thị Thức – Cán bộ Tòa án nhân dân Khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2025, Tòa án nhân dân khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 146/2025/TLST – HS ngày 14/10/2025 đối với bị cáo:
TRƯƠNG THỊ H, giới tính: nữ; sinh năm 1949 tại Bạc Liêu (nay là Cà Mau); Số CCCD/Hộ chiếu: 09514900xxxx do Cục CSQLHC về TTXH cấp ngày 10/8/2021; Nơi đăng ký thường trú: Số I khóm E, Phường B, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (nay là khóm B, phường B, tỉnh Cà Mau); Nơi ở hiện nay: P, nhà số A U, Phường B, quận B (nay là phường T), Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Văn hóa: 05/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Trương Văn N (chết); Con bà: Nguyễn Thị V (chết); Hoàn cảnh gia đình: Có chồng và 02 con, lớn nhất sinh năm 1971, nhỏ nhất sinh năm 1974; Tiền án - Tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Võ Phúc H1, sinh năm 2006; trú tại: ấp A, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu (nay là xã V, tỉnh Cà Mau).
2. Bà Võ Thị Mỹ N1, sinh năm 1975; trú tại: P nhà số A U, Phường B (nay là phường T), Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ 50 phút ngày 17/5/2025, Trương Thị H đang ghi số đề cho Võ Phúc H1 tại phòng trọ số G, nhà số A U, Phường B, quận B (nay là
Trang 1
phường T), Thành phố Hồ Chí Minh thì bị lực lượng công an bắt quả tang, thu giữ của H 4.250.000 đồng và các đồ vật dùng để ghi số đề. Lực lượng Công an đã đưa H và H1 cùng vật chứng về trụ sở công an làm việc. Tại đây, H khai nhận bán số đề cho H1, Võ Thị Mỹ N1 và một số người không rõ nhân thân với cách thức chơi như sau: Số đầu đuôi 02 con thì 1.000 đồng trúng 70.000 đồng, bao lô 03 con đề thì 1.000 đồng trúng 600.000 đồng, xỉu chủ 1.000 đồng trúng 600.000 đồng. Tổng hợp phơi đề xác định, tổng số tiền Trương Thị H bán đề ngày 17/5/2025 là 8.257.000 đồng. Ngoài ra, Trương Thị H thừa nhận bán số đề được khoảng 02 tuần, số tiền hưởng lợi khoảng 2.000.000 đồng.
Tiến hành làm việc với Võ Thị Mỹ N1, Cơ quan điều tra xác định được như sau: Vào khoảng 15 giờ ngày 17/5/2025, N1 đi làm tạp vụ về thì có ghé quán nước của H tại đầu hẻm A U, Phường B, quận B (nay là phường T), Thành phố Hồ Chí Minh mua số đề như sau:
- Số “779 x20 x20b2” được diễn giải như sau: Đánh số 779 xỉu chủ 02 đài Thành phố Hồ Chí Minh – Long An với số tiền 20.000 đồng, tổng số tiền mua là 80.000 đồng số 779 bao lô 03 con 02 đài Thành phố Hồ Chí Minh – Long An với số tiền 2.000 đồng, tổng số tiền mua đề là 68.000 đồng.
- Số “79 d30 d30” được diễn giải như sau: Số 79 đầu đuôi 02 đài Thành phố Hồ Chí Minh – Long An với số tiền 30.000 đồng, tổng tiền mua số đề là 120.000 đồng.
- Số “ 878x50x50b5” được diễn giải như sau: Đánh số 878 xỉu chủ 02 đài Thành phố Hồ Chí Minh – Long An với số tiền 50.000 đồng, tổng số tiền mua là 200.000 đồng; số 787 bao lô 3 con 02 đài Thành phố Hồ Chí Minh – Long An với số tiền 5.000 đồng, tổng số tiền mua số đề là 170.000 đồng.
- Số “78d50d50b10” được diễn giải như sau: Số 78 đầu đuôi 02 đài Thành phố Hồ Chí Minh – Long An với số tiền 50.000 đồng, tổng số tiền mua là 200.000 đồng; Số 78 bao lô 02 con 02 đài Thành phố Hồ Chí Minh – Long An với số tiền 10.000 đồng, tổng số tiền mua là 360.000 đồng. Trong ngày 17/5/2025, tổng số tiền N1 mua đề của H là 1.198.000 đồng.
Việc bán số đề của H cho H1 được xác định như sau: Vào khoảng 12 giờ ngày 17/5/2025, sau khi H1 đi làm về nhà trọ thì có ghé quán tạp hóa của H để mua nước uống thì H1 thấy H có bán số đề cho khách nên H1 hỏi mua các con số đề sau:
Hai đài Thành phố Hồ Chí Minh và Long An bao lô số 75, số tiền 10.000 đồng, tổng số tiền 360.000 đồng, số tiền sau khi trừ tiền cò H1 phải trả là 288.000 đồng thì được bà H đồng ý. Sau đó, H ghi những con số này vào sổ phơi đề để lưu lại và kêu H1 đi về, không đưa phơi đề cho H1, hẹn H1 khi nào có kết quả thì sẽ quay lại thanh toán. Đến khoảng 15 giờ 50 phút cùng ngày, H1 tiếp tục quay lại phòng trọ của H và mua thêm các con số đề gồm: Hai đài Thành phố Hồ Chí Minh – Long An bao lô số 25 và 52 số tiền 10.000 đồng, đá số 25 – 52 số tiền 7.000 đồng, tổng tiền là 1.224.000 đồng, số tiền sau khi trừ cò mà H1 phải trả là 979.200 đồng. Do đó, trong ngày 17/5/2025, tổng số tiền đánh bạc của Võ Phúc H1 là 1.584.000 đồng. Số tiền này H cũng kêu H1 sẽ thanh toán sau khi có kết quả sổ xố miền nam. Đối với các số đề mua sau này, khi H ghi phơi vào sổ giấy thì H1 cũng ghi lại các con số H1 đã mua vào phần ghi chú
Trang 2
trong điện thoại. Khi H1 vừa ghi xong thì Công an kiểm tra bắt quả tang và mời H1 cùng những người liên quan về làm việc.
Cộng phơi đề ngày 17/5/2025 của bị cáo H xác định được tổng số tiền là 8.257.000 đồng, trong đó tờ phơi của Võ Thị Mỹ N1 là 1.198.000 đồng, của Võ Quốc H2 là 1.584.000 đồng, còn lại của những người không rõ nhân thân lai lịch.
Vật chứng của vụ án: Số tiền 4.250.000 đồng; 01 điện thoại hiệu Nokia; 10 tờ giấy lịch cắt sẵn; 01 cuốn vở học sinh có 02 trang ghi số đề (đã lưu làm vật chứng vụ án) và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 thu giữ của Võ Quốc H2 (Cơ quan điều tra đã trả lại cho H2).
Tại bản cáo trạng số 11/CT – VKS ngày 10 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trương Thị H về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Trong phần tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu và kết luận cáo trạng đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm o, s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 65 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trương Thị H mức án từ 09 (chín) đến 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là từ 18 đến 24 tháng tính từ ngày tuyên án.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 10 tờ giấy lịch cắt sẵn vì không có giá trị sử dụng.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước:
+ Số tiền 4.250.000 đồng.
+ 01 điện thoại di động hiệu Nokia thu giữ của bị cáo vì đây là phương tiện phạm tội.
Bị cáo thống nhất với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng án treo vì bị cáo đã già, sức khỏe không đảm bảo, trong người có nhiều bệnh tật, hiện nay có hoàn cảnh khó khăn và bị cáo đã nhận thức được việc làm của mình là không đúng, bị cáo rất sợ và ăn năn hối hận.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố
Trang 3
tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện là hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay phù hợp với nhau, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu thu thập được chứng minh trong quá trình điều tra nên có đủ cơ sở kết luận: Trong ngày 17/5/2025, bị cáo đã đánh bạc bằng hình thức ghi số đề cho Võ Thị Mỹ N1, Võ Văn H3 cùng một số người không rõ nhân thân lai lịch (chứng minh được trên tờ phơi đề của Võ Thị Mỹ N1 là 1.198.000 đồng, của H3 là 1.584.000 đồng, còn lại của những người không rõ nhân thân lai lịch), tổng cộng số tiền là 8.257.000 đồng. Bị cáo ghi số đề một mình và tự chung chi thắng thua cho khách. Ngoài số vật chứng phơi đề thu giữ trong ngày 17/5/2025 thì cơ quan điều tra không thu giữ được chứng cứ nào khác.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội “Đánh bạc”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự. Do đó, cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.
. Hành vi phạm tội của bị cáo H là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến trật tự công cộng, ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội tại địa phương. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai trái, bị pháp luật trừng trị nhưng vẫn bất chấp phạm tội. Do đó, cần có mức án nghiêm khắc đối với bị cáo. Tuy nhiên, khi lượng hình đối với bị cáo Hội đồng xét xử sẽ xem xét, cân nhắc đến tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình giảm nhẹ trách nhiệm hình sự dưới đây:
. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
. Về tình tiết giảm nhẹ: Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người trên 70 tuổi (76 tuổi). Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm o, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.
. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo hiện có nơi cư trú rõ ràng, chấp hành nghiêm túc khi có triệu tập của các cơ quan tiến hành tố tụng. Đối chiếu với các quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự và Nghị quyết số 03/VBHN – TANDTC ngày 10/7/2025 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo thì bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định nên Hội đồng xét xử chấp nhận lời đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa hôm nay cho bị cáo cũng đủ tác dụng răn đe nhưng cũng thể hiện sự khoan hồng và nhân đạo của pháp luật đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng:
- Đối với số tiền 4.250.000 đồng thu giữ được khi lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Bị cáo khai trong ngày 17/5/2025 bị cáo ghi được số tiền là 8.257.000 đồng nhưng bị cáo chỉ thu được tiền mặt là 4.250.000 đồng, số còn lại thì khách nợ, chưa trả. Xét đây là tiền tang vật của vụ án nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Trang 4
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia thu giữ của bị cáo. Đây là phương tiện bị cáo dùng để ghi số đề nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- Đối với 10 tờ giấy lịch cắt sẵn không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với điện thoại di động hiệu Iphone thu giữ của Võ Phúc H1, vào ngày 23/05/2025 tại Tổ địa bàn B, Phòng C Công an Thành phố H xét thấy không liên quan đến vụ án nên đã trả lại cho ông H1 (bút lục 63). Do đó, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
. Quá trình điều tra bị cáo tự khai nhận: Bị cáo mới ghi được số đề khoảng 02 tuần và hưởng lợi được khoảng 2.000.000 đồng. Xét, đây là tiền thu lợi bất chính nên cần buộc bị cáo phải nộp lại để tịch thu sung quỹ Nhà nước.
. Đối với Võ Phúc H1 và Võ Thị Mỹ N1 có hành vi ghi số đề của bị cáo Trương Thị H với tổng số tiền dưới 5.000.000 đồng, không đủ yếu tố cấu thành tội đánh bạc. Do vậy, ngày 23/9/2025 Phòng C Công an Thành phố H đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 151/QĐ – XPVPHC đối với Võ Phúc H1 và 152/QĐ – XPVPHC đối với Võ Thị Hồng N2.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 38; điểm i, o, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.
Xử phạt: Bị cáo Trương Thị H 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Trương Thị H về Ủy ban nhân dân phường T – Thành phố Hồ Chí Minh để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã được hưởng án treo.
Trường hợp thực người được hưởng án treo hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
[2]. Buộc bị cáo Trương Thị H phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 2.000.000 đồng để tịch thu sung quỹ Nhà nước.
[3]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 10 tờ giấy lịch sắt sẵn.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước:
+ 01 điện thoại di động Nokia màu xanh (không kiểm tra tình trạng hoạt động).
Trang 5
+ Số tiền 4.250.000 (Bốn triệu hai trăm năm mươi ngàn) đồng.
(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 11/11/2025 tại Phòng thi hành án dân sự Khu vực 5 - Thành phố Hồ Chí Minh và Giấy nộp tiền tại Ngân hàng TMCP C1 – Tên người nộp: Nguyễn Thanh T; Tên người nhận/ đơn vị nhận: Phòng C Công an Thành phố H).
[4]. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Trương Thị H phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[5]. Quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án để xin xét xử phúc thẩm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo H).
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Công an TP . HCM (PV6); - VKSND TP . HCM; - TAND TP. HCM; - VKSND KV5; - Phòng THADS KV5; - Lưu VP – Hồ sơ. Trang 6 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Mai Thùy |