vanban.org

Bản án 183/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 183/2025/HNGĐ-ST
Ngày 18-9-2025
V/v tranh chấp Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thành Quang

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Huỳnh Hưỡng

Ông Nguyễn Công Trường

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Cẩm Hường – Thư ký viên, Toà án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Ngày 18 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 64/2025/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 7 năm 2025 về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 280/2025/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông CHANG, FU-CHIEH, sinh ngày 08/11/1983.

Địa chỉ cư trú: Số I, T, khóm A, phường T khu L, thành phố Đ, Đài Loan, đề nghị Toà án xét xử vắng mặt.

Người được uỷ quyền nộp hồ sơ khởi kiện:

Ông Hồ Tấn X, sinh ngày 15/10/1994, địa chỉ cư trú: Ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

- Bị đơn: Bà Hồ Thúy A, sinh ngày 21/02/2002.

Địa chỉ cư trú: Ấp R, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau, nay là ấp R, xã K, tỉnh Cà Mau, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn ông C, FU-CHIEH trình bày:

Về hôn nhân: Nguyên đơn là ông C, FU-CHIEH và bà Hồ Thúy A do tìm hiểu và quen biết với nhau, hai bên có tình cảm, vì vậy giữa ông C, FU-CHIEH và bà Hồ Thúy A tổ chức tiệc cưới ngày 15/11/2023, sau đó giữa ông C, FU-CHIEH và bà Hồ Thúy A tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Cà Mau.

Sau khi kết hôn, giữa ông C, FU-CHIEH và bà Hồ Thúy A chung sống vui vẻ, hạnh phúc với nhau, đến khoảng đầu năm 2024 giữa ông C, FU-CHIEH và bà Hồ Thúy A thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, mặc dù đã hoà giải nhiều lần nhưng không thành, mâu thuẫn diễn ra ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách. Sau đó, ông C, FU-CHIEH quay về Đài Loan sinh sống và làm việc. Ông C, FU-CHIEH và bà A hiện tại không còn sống chung với nhau, đã ly thân từ tháng 02/2024 cho đến nay, cả hai đều không còn quan tâm, chăm sóc cho nhau. Tình trạng hôn nhân giữa ông C, FU-CHIEH và bà Hồ Thúy A đi vào bế tắt, không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài.

Nay, ông C, FU-CHIEH yêu cầu ly hôn với bà Hồ Thúy A.

Về con chung: Không có.

Về tài sản, nợ: Không có.

Ông C, FU-CHIEH yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt.

- Đối với bị đơn bà Hồ Thúy A: Từ khi thụ lý, Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt, niêm yết đúng theo quy định của pháp luật, bị đơn vắng mặt, không có văn bản nêu ý kiến gửi đến Tòa án.

Vụ án, được Tòa án tiến hành công khai chứng cứ và lập biên bản không tiến hành hòa giải được, do bị đơn bà Hồ Thúy A vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

- Về việc chấp hành pháp luật của đương sự:

Nguyên đơn ông C, FU-CHIEH đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Bị đơn bà Hồ Thúy A đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai vẫn vắng mặt.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, cần xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên, là phù hợp.

- Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:

Được xác định là tranh chấp về Ly hôn, bị đơn là bà Hồ Thúy A có nơi cư trú tại ấp R, xã K, tỉnh Cà Mau.

Từ đó, Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về hôn nhân:

Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 85 ngày 15/11/2023 do Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Cà Mau cấp cho ông C, FU-CHIEH và bà Hồ Thúy A.

Cho thấy quan hệ hôn nhân giữa ông C, FU-CHIEH và bà Hồ Thúy A được xem là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Quá trình giải quyết vụ án, ông C, FU-CHIEH xác định hôn nhân giữa ông C, FU-CHIEH và bà Hồ Thúy A đã phát sinh mâu thuẫn, không còn hạnh phúc và mục đích hôn nhân không đạt được, ông C, FU-CHIEH yêu cầu được ly hôn với bà Hồ Thúy A.

Đối với bà Hồ Thúy A vắng mặt.

Tại Đơn xin vắng mặt ông C, FU-CHIEH kiên quyết ly hôn với bà Hồ Thúy A.

Theo Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình quy định: Vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau và có nghĩa vụ chung sống với nhau.

Mặt khác, theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 4 của Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình: “Điều 4. Ly hôn theo yêu cầu của một bên quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình. 3. “Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” là thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Không có tình nghĩa vợ chồng, ví dụ: vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau; vợ, chồng sống ly thân, bỏ mặc vợ hoặc chồng;”.

Xét, hôn nhân giữa ông C, FU-CHIEH và bà Hồ Thúy A đã thật sự trầm trọng, không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu khởi kiện của ông C, FU-CHIEH là có căn cứ được chấp nhận, cho ông C, FU-CHIEH được ly hôn với ông T phù hợp với Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Theo ông C, FU-CHIEH xác định vợ chồng không có con chung.

Về tài sản, nợ: Ông CHANG, FU-CHIEH không có yêu cầu, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết, trường hợp có tranh chấp sẽ được giải quyết ở vụ án khác.

Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông CHANG, FU-CHIEH, ông C, FU-CHIEH phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số tiền 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Các điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các điều 51, 56, 57 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông C, FU-CHIEH.

1. Về hôn nhân: Cho ông C, FU-CHIEH được ly hôn bà Hồ Thúy A.

2. Về con chung: Không có.

3. Về tài sản, nợ: Không đặt ra xem xét giải quyết, trường hợp có tranh chấp sẽ được xem xét giải quyết ở vụ án khác.

4. Về án phí: Ông CHANG, FU-CHIEH phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), đối trừ số tiền 300.000 đồng tại Biên lai thu 0011403 ngày 21/7/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau, được chuyển thu.

Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ