vanban.org

Bản án 183/2024/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bắc Giang Tuyên án 24/09/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 24/09/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn c vào điểm a khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 B luật tố tụng hình sự năm 2015: Ch p nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Ngọc T1, sửa bản án hình sự sơ thẩm.

Căn c khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của B luật hình sự. Xử phạt Nguyễn Ngọc T1: 01 (m t) năm 01 (m t) tháng tù về t i “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 năm 02 tháng t nh từ ngày tuyên án phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc T đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Căn c vào điểm a khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 B luật tố tụng hình sự năm 2015: Ch p nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Ngọc T1, sửa bản án hình sự sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 183/2024/HS-PT
Ngày: 24/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Chung.

Các thẩm phán: Bà Phạm Thị Minh Hiền

Bà Trần Thị Hà

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Yến Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Hoàng T - Kiểm sát viên.

Ngày 24/9/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 218/2024/TLPT-HS ngày 26/8/2024 đối với bị cáo Nguyễn Ngọc T1, Phạm Thị M do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc T1, Phạm Thị M đối với bản án hình sự sơ thẩm số 67/2024/HSST ngày 19/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

- Bị cáo có kháng cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Ngọc T1; tên gọi khác: Không có; Giới t nh: N; sinh năm 1980;

Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn Đ, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang;

Quốc tịch: Việt Nam; dân t c: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Buôn bán; trình đ học v n: 9/12; Bố đ : Nguyễn Ngọc G, sinh năm 1954; m đ : Nguyễn Thị N1, sinh năm 1958; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là th hai; V : Trần Thị H, sinh năm 1987; Bị cáo có 03 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không có;

Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 29/3/2024 đến ngày 07/4/2024, hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn “C m đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xu t cảnh” có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Phạm Thị M; tên gọi khác: Không có; Giới t nh: Nữ; sinh năm 1977;

Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Tổ dân phố N, thị tr n Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang;

Quốc tịch: Việt Nam; dân t c: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; trình đ học v n: 5/12; Bố đ : Phạm Văn Ả, sinh năm 1956; m đ : Nguyễn Thị T2, sinh năm 1957; Gia đình có 05 anh, chị em, bị cáo là th hai; Chồng: Lê Đình Đ, sinh năm 1973; Bị cáo có 01 con, sinh năm 1998; Tiền án, tiền sự: Không có;

Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/3/2024 đến ngày 13/6/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh” và “Tạm hoãn xu t cảnh” có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra trong vụ án còn 09 bị cáo khác, người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, n i dung vụ án đư c tóm tắt như sau: Hồi 17 giờ 00 phút ngày 29/3/2024, tại phòng ngủ nhà Ngô Thị V ở thôn T, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Đ i Cảnh sát điều tra t i phạm về trật tự xã h i Công an huyện L phát hiện, lập biên bản bắt người phạm t i quả tang đối với 11 đối tư ng về hành vi đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền dưới hình th c đánh “Liêng”, gồm: Ngô Thị V, Giáp Văn H1, Phạm Thị M, Nguyễn Thị N2, Nguyễn Văn S, Trương Quang H2, Nguyễn Văn N3, Dương Văn T3, Nguyễn Văn H3, và Nguyễn Ngọc T1. Thu giữ các vật ch ng, đồ vật, tài sản gồm: + Thu giữ trên chiếu bạc: 01 t m thảm nỉ; 01 b bài tú lơ khơ 52 quân; số tiền 4.300.000 đồng; 01 két sắt hình h p chữ nhật, bên trong có 04 b bài tú lơ khơ chưa sử dụng và số tiền 2.700.000 đồng. + Thu giữ trên người các bị cáo số tiền 8.700.000 đồng các bị cáo dùng để đánh bạc, trong đó: 1.000.000 đồng của T3, 600.000 đồng của T4, 2.250.000 đồng của T1, 1.900.000 đồng của N3, 1.900.000 đồng của S và 1.050.000 đồng của N2. + Thu giữ các đồ vật tài sản khác, gồm: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Oppo màu đen của V; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone màu trắng, 01 xe ô tô Toyota Camry màu đen, biển kiểm soát 98A- 740.65 của H1; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung màu trắng của T3; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung màu nâu, 01 xe mô tô Honda Wave, biển kiểm soát 98G1- 180.22 của H2; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Oppo màu đỏ của T4; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone màu đen của H3; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Oppo màu đen và số tiền 29.300.000 đồng của T1; 01 chiếc điện thoại Oppo màu đen, 01 xe ô tô Ford Escape màu đen, biển kiểm soát 98A-508.86 của N3; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu vàng trắng, số tiền 11.050.000 đồng, 01 xe mô tô Honda Airblade, biển kiểm soát 98M1- 235.24 của S; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone màu trắng, 01 xe mô tô Honda Airblade, biển kiểm soát 98B2- 222.16 của N2; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone màu vàng, 01 túi vải màu đen, bên trong có 10.000.000 đồng và 01 xe máy điện DK Bike, biển kiểm soát 98MĐ4- 060.03 của M. Quá trình điều tra, xác định: Giáp Văn H1 với Ngô Thị V có quan hệ quen biết xã h i với nhau. Khoảng cuối tháng 3/2024, H1 đặt v n đề với V cho mọi người đánh bạc tại nhà V nhằm mục đ ch thu tiền từ các con bạc kiếm lời, V đồng ý, cả hai thống nh t trong m t ngày sẽ chia làm 02 ca đánh bạc, mỗi ca sẽ thu 100.000 đồng/01 người chơi, số tiền thu đư c sau khi trừ đi các chi ph sẽ chia đều cho H1 và V. Sau khi thỏa thuận xong, H1 đem đến cho V 01 t m thảm nỉ, 01 két sắt đư c đặt mật khẩu là “1975”, bên trong là m t số b bài tú lơ khơ. Buổi sáng ngày 29/3/2024, H1 gọi điện rủ Nguyễn Ngọc T1 và Phạm Thị M đến nhà V đánh bạc, T1 và M đồng ý, đồng thời T1 gọi điện rủ thêm S, M gọi điện rủ H2 đến nhà V đánh bạc. Sau khi rủ đư c T1, M thì H1 gọi điện bảo V rủ thêm người chơi khác đến đánh bạc cùng, V đồng ý và gọi điện rủ N2, T3 và T4 đến nhà đánh bạc. Khoảng 10 giờ cùng ngày, S đi xe mô tô 98M1- 235.24 chở T1, T3 và T4 đi xe taxi đến nhà V để đánh bạc. Khi mọi người đến V trải t m thảm nỉ ra nền phòng ngủ, để két sắt vào giữa t m thảm và chuẩn bị bài tú lơ khơ để cho T1, S, T3 và T4 đánh bạc ăn tiền dưới hình th c đánh “Liêng”. Khi mọi người chơi, V yêu cầu mỗi người đút 100.000 đồng vào két sắt.

Về cách th c đánh bạc và m c sát phạt: Các bị cáo dùng 52 quân bài tú lơ khơ chia đều cho mỗi người 03 quân, bài thừa úp bỏ để ở giữa. Trước khi lên bài mỗi người đặt 50.000 đồng tiền vào nước; sau khi lên bài người chia sẽ đư c tố cư c trước hoặc bỏ bài, số tiền tố cư c từ 50.000 đồng trở lên; những người chơi theo th tự từ bên phải người chia sẽ tố cư c số tiền bằng hoặc cao hơn người tố cư c trước, ai không tố cư c theo sẽ úp bài và m t tiền vào nước và tiền tố trước (nếu đã tố trước đó). C như vậy đến hết vòng mà không ai tố cư c cao hơn, t c là những người tố cư c cùng m t m c hoặc đến m c tối đa theo thoả thuận thì người chơi sẽ mở bài để t nh điểm so thắng thua. Cách so bài như sau: Bài cao nh t là “sáp”, t c là có 03 quân giống nhau (sáp 03 quân A cao nh t, rồi đến K, Q…3, 2); tiếp đến là “liêng”, t c là có 03 quân tạo thành 01 dãy liên tiếp nhau (Q, K, A to nh t, rồi đến J, Q, K… 1, 2, 3); tiếp theo là bài ảnh, t c là có 03 quân lớn hơn 10 nhưng không phải liêng, sáp; cuối cùng là bài điểm nếu ván chia không có sáp, liêng, ảnh, cách t nh điểm như sau: c ng tổng 03 quân rồi l y chữ số hàng đơn vị để so sánh, khi c ng thì từ quân 10 trở lên sẽ t nh 0 điểm, các quân từ A đến 9 tương ng điểm từ 1 đến 9. Nếu có bài bằng điểm nhau sẽ so sánh ch t theo th tự rô, cơ, b ch, tép (A rô là to nh t, các ch t còn lại theo th tự từ quân K xuống). Trong ván, nếu người chơi đư c “sáp” sẽ đư c 200.000 đồng và “liêng” đồng hoa lớn nh t sẽ đư c 100.000 đồng của mỗi người chơi còn lại. Đồng thời, những người đư c sáp và liêng đồng hoa này phải bỏ ra số tiền lần lư t là 200.000đ và 100.000đ đút vào két sắt.

Khoảng 11 giờ cùng ngày, trong lúc các đối tư ng đang đánh bạc thì T4 nhờ V gọi điện cho N3 (N3 làm nghề chạy xe dịch vụ) đến chở T4 đi công việc, N3 đồng ý. Tuy nhiên, khi N3 đến thì T4 không đi nữa nên N3 ngồi vào đánh bạc cùng mọi người. Sau đó, lần lư t M đi xe máy điện BKS 98MĐ4 -060,03, N2 đi xe mô tô BKS 98B2- 222.16, H2 đi xe mô tô BKS 98G1- 180.22 đến nhà V và cùng tham gia đánh bạc.

Các bị cáo đánh bạc đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày thì anh Phạm Đình T5, (là chồng của V) về nhà mục đ ch l y tiền đi giải quyết công việc cá nhân. Khi th y mọi người đánh bài trong phòng ngủ của gia đình mình, anh T5 yêu cầu mọi người không chơi nữa rồi đi ra ngoài sân. Tại đây, anh T5 gặp và hỏi V về lý do để mọi người đánh bài tại nhà, đồng thời yêu cầu V không cho mọi người đánh bài ở nhà mình nữa, V đồng ý. Sau đó, do bận công việc anh T5 tiếp tục đi làm.

Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, khi các đối tư ng đang đánh bạc thì H1 đi xe ô tô 98A- 740.65 đến mở két sắt kiểm đếm số tiền trong két đư c khoảng 1.600.000 đồng rồi c t lại vào két và ngồi xem đánh bạc. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, Nguyễn Văn H3 đến ngồi cạnh Hanh xem mọi người đánh bạc. Trong lúc đánh bạc, H2 đ ng dậy đi vệ sinh nên H3 ngồi xuống đánh h H2 đư c 03 ván thì H2 vào đánh tiếp, còn H3 tiếp tục ngồi xem đánh bạc. Các đối tư ng đánh bạc liên tục đến khoảng 17 giờ cùng ngày thì bị lực lư ng Công an phát hiện, bắt quả tang.

Về số tiền thu giữ tại chiếu bạc, tiền sử dụng vào việc đánh bạc, xác định đư c như sau: Số tiền 4.300.000 đồng thu giữ trên chiếu bạc và 2.700.000 đồng thu giữ trong két sắt là tiền các bị cáo đánh bạc.

- T1 khai sử dụng số tiền 2.200.000 đồng để đánh bạc nhưng bị thua hết, sau đó T1 vay của M 1.000.000 đồng, vay Sinh 500.000 đồng để đánh bạc. Khi bắt quả tang, T1 đang bị thua và còn lại 2.250.000 đồng dùng để đánh bạc tiếp.

- N3 khai dùng số tiền 2.100.000 đồng dùng đánh bạc, khi bị bắt quả tang N3 đang thua và còn lại 1.900.000 đồng dùng đánh bạc tiếp.

- M khai có 2.000.000 đồng dùng đánh bạc, trong đó bỏ ra 500.000 đồng xuống chiếu để đánh bạc trước, còn lại c t 1.500.000 đồng vào túi vải màu đen. Quá trình đánh bạc, M dùng tiền đang đánh bạc cho T1 vay 1.000.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, M để số tiền đang sử dụng đánh bạc dưới thảm nỉ, còn số tiền 1.500.000 đồng khi bị bắt giữ đã rơi ra ngoài.

- T3 khai có 1.900.000 đồng dùng đánh bạc. Quá trình đánh bạc, T3 dùng tiền đánh bạc trả n H2 500.000 đồng và vay T4 số tiền 300.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, T3 c t số tiền 1.000.000 đồng đang sử dụng đánh bạc tại túi quần sau bên phải.

- T4 khai có 1.900.000 đồng dùng đánh bạc. Quá trình đánh bạc, T4 dùng tiền đánh bạc cho T3 vay số tiền 300.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, T4 c t số tiền 600.000 đồng đang sử dụng đánh bạc tại túi quần trước bên trái.

- H2 khai có 450.000 đồng dùng đánh bạc. Quá trình đánh bạc, H2 đư c T3 trả n cá nhân số tiền 500.000 đồng và tiếp tục sử dụng số tiền này để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, H2 để toàn b tiền đang sử dụng đánh bạc dưới thảm nỉ.

- Nguyên khai có 500.000 đồng dùng đánh bạc. Quá trình đánh bạc, N2 thua hết tiền nên vay V 100.000 đồng (tiền cá nhân của V) để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, N2 c t số tiền 1.050.000 đồng đang sử dụng đánh bạc tại cạp quần ph a sau.

- Sinh khai có 2.350.000 đồng tiền đánh bạc, trong đó S dùng tiền đánh bạc cho T1 vay 500.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, S c t số tiền 1.900.000 đồng đang sử dụng đánh bạc tại túi quần ph a trước bên trái.

Như vậy, tổng số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc xác định là 18.000.000 đồng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa các đối tư ng đã khai nhận về toàn b hành vi phạm t i của mình như cáo trạng đã nêu trên.

Cáo trạng số 60/CT-VKS ngày 14/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã truy tố bị cáo Giáp Văn Hùng; Ngô Thị Vân; Nguyễn Ngọc T1; Phạm Thị M; Nguyễn Văn S; Dương Văn T3; Giáp Văn T6, Nguyễn Văn N3; Nguyễn Thị N2; Trương Quang H2 và Nguyễn Văn H3 về t i “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 B luật hình sự.

Với n i dung trên bản án hình sự sơ thẩm số 67/2024/HSST ngày 19/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang đã xét xử và quyết định:

- Căn c khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của B luật hình sự.

Xử phạt Nguyễn Ngọc T1 01 (m t) năm 01 (m t) tháng tù về t i “Đánh bạc” thời hạn tù t nh từ ngày bắt thi hành án, nhưng đư c trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 29/3/2024 đến ngày 07/4/2024.

Phạt bổ sung bằng tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.

- Căn c khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của B luật hình sự.

Xử phạt Phạm Thị M 10 (mười) tháng tù về t i “Đánh bạc”, thời hạn tù t nh từ ngày bắt thi hành án, nhưng đư c trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/3/2024 đến ngày 13/6/2024.

Phạt bổ sung bằng tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về hình phạt đối với 09 bị cáo khác, vật ch ng, án ph và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi c p sơ thẩm xét xử xong, ngày 22/7/2024 bị cáo Nguyễn Ngọc T1 kháng cáo xin giảm nh hình phạt và xin đư c hưởng án treo.

Ngày 25/7/2024, bị cáo Phạm Thị M kháng cáo xin giảm nh hình phạt và xin đư c hưởng án treo.

Ngày 28/7/2024, bị cáo Nguyễn Thị N2 kháng cáo xin giảm nh hình phạt và xin đư c hưởng án treo. Ngày 12/9/2024, bị cáo Nguyễn Thị N2 có đơn xin rút toàn b kháng cáo. Tòa án đã ra Thông báo về việc rút kháng cáo số 43/2024/TB-TA ngày 18/9/2024.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo T1 xin rút n i dung kháng cáo xin giảm nh hình phạt và giữ nguyên n i dung kháng cáo xin đư c hưởng án treo. Bị cáo M xin rút n i dung kháng cáo xin hưởng án treo và giữ nguyên n i dung kháng cáo xin giảm nh hình phạt.

Bị cáo T1 trình bày gia đình bị cáo r t khó khăn, bị cáo phải nuôi 3 con nhỏ và m già bị bệnh, sau khi xét xử sơ thẩm xong bị cáo đã cố gắng tự giác ch p hành và n p số tiền hình phạt bổ sung và án ph của bản án. Mong H i đồng xét xử xem xét cho bị cáo đư c hưởng án treo.

Bị cáo M trình bày là gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, sau khi xét xử sơ thẩm xong bị cáo đã cố gắng tự giác ch p hành và n p số tiền hình phạt bổ sung và án ph của bản án. Mong H i đồng xét xử xem xét giảm nh m c hình phạt cho bị cáo.

Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân t ch các tình tiết của vụ án, t nh ch t m c đ nguy hiểm của hành vi phạm t i do bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và các căn c kháng cáo của bị cáo nêu ra đã kết luận và đề nghị HĐXX áp dụng:

Căn c vào điểm a khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 B luật tố tụng hình sự năm 2015: Ch p nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Ngọc T1, sửa bản án hình sự sơ thẩm.

Căn c khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của B luật hình sự.

Xử phạt Nguyễn Ngọc T1: 01 (m t) năm 01 (m t) tháng tù về t i “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 năm 02 tháng t nh từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo cho UBND xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

* Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

* Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Phạt bổ sung bằng tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.

Xác nhận bị cáo Nguyễn Ngọc T1 đã thi hành xong 15.200.000đ tiền phạt bổ sung và án ph hình sự sơ thẩm tại Biên lai 0002721 ngày 24/9/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang.

2. Căn c vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 B luật tố tụng hình sự năm 2015: Ch p nhận kháng cáo xin giảm nh hình phạt của bị cáo Phạm Thị M. Sửa bản án sơ thẩm.

Căn c khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của B luật hình sự.

Xử phạt Phạm Thị M: 07 (Bẩy) tháng tù về t i “Đánh bạc”, thời hạn tù t nh từ ngày bắt thi hành án, nhưng đư c trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/3/2024 đến ngày 13/6/2024.

Phạt bổ sung bằng tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.

Xác nhận bị cáo Phạm Thị M đã thi hành xong 15.200.000đ tiền phạt bổ sung và án ph hình sự sơ thẩm tại Biên lai 0002995 ngày 31/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang.

3. Án ph hình sự phúc thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc H i:

Bị cáo Nguyễn Ngọc T1 và bị cáo Phạm Thị M không phải chịu án ph hình sự phúc thẩm.

- Các bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo T1 và bị cáo M mong h i đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh của các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở n i dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đư c tranh tụng tại phiên tòa, H i đồng xét xử nhận định như sau:

Về t nh h p pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc T1, Phạm Thị M n p theo đúng các quy định của pháp luật nên đư c coi là đơn kháng cáo h p pháp cần đư c ch p nhận để xem xét.

Về hành vi phạm t i:

Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận về toàn b hành vi phạm t i của mình như Cáo trạng đã nêu. Lời khai của các bị cáo phù h p với lời khai tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phù h p với tài liệu tang vật thu giữ đư c về thời gian, không gian, địa điểm nơi xảy ra vụ án và các tài liệu khác có trong hồ sơ đã có đủ cơ sở để kết luận: Trong thời gian từ khoảng 10 giờ đến khoảng 17 giờ 00 phút ngày 29/3/2024 tại phòng ngủ nhà ở của Ngô Thị V ở thôn T, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang, V và Giáp Văn H1 có hành vi cung c p công cụ, phương tiện, cho 09 đối tư ng đánh bạc trái phép dưới hình th c đánh “Liêng” gồm: Nguyễn Ngọc T1, Giáp Văn T6, Nguyễn Văn H3, Trương Quang H2, Nguyễn Văn N3, Dương Văn T3; Nguyễn Văn S; Nguyễn Thị N2 và Phạm Thị M với tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc là 18.000.000 đồng, thì bị Đ i Cảnh sát điều tra t i phạm về trật tự xã h i Công an huyện L phát hiện, bắt quả tang.

Như vậy khi thực hiện hành vi phạm t i các bị cáo là người đủ tuổi, đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm t i với lỗi cố ý trực tiếp.

Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố c u thành t i “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 B luật hình sự. Việc các bị cáo bị truy tố, xét xử với t i danh và điều luật viện dẫn ở trên là hoàn toàn đúng người, đúng t i và đúng pháp luật.

Bản án sơ thẩm sau khi xem xét đánh giá t nh ch t, m c đ nguy hiểm hành vi của bị cáo, vai trò của các bị cáo, đánh giá toàn b các tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đã xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T1 01 (m t) năm 01 (m t) tháng tù về t i “Đánh bạc”, xử phạt bị cáo Phạm Thị M 10 (mười) tháng tù về t i “Đánh bạc” là hoàn toàn tương x ng với t nh ch t, m c đ hành vi phạm t i của các bị cáo.

[3.] Xét kháng cáo của các bị cáo thì th y:

Tại Tòa án c p phúc thẩm các bị cáo trình bầy về hoàn cảnh khó khăn của gia đình các bị cáo, ngoài ra sau khi xét xử sơ thẩm các bị cáo đã có ý th c ch p hành các quyết định của bản án sơ thẩm và n p thêm m t số tài liệu, ch ng c mới:

- Bị cáo Nguyễn Ngọc T1 đã tự nguyện n p số tiền 15.200.000 đồng tiền phạt bổ sung và án ph hình sự sơ thẩm.

- Bị cáo Phạm Thị Mai sau khi xét xử sơ thẩm đã tự nguyện n p số tiền 10.200.000 đồng tiền phạt bổ sung và án ph hình sự sơ thẩm

Đây là các tình tiết giảm nh mới quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS cần áp dụng cho các bị cáo.

- Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Ngọc T1 th y: Bị cáo là nhân dân lao đ ng, nh t thời phạm t i, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nh quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Tại c p phúc thẩm bị cáo có tình tiết giảm nh mới là bị cáo có thái đ tự giác ch p hành hình phạt bổ sung do Tòa c p sơ thẩm xử phạt, bản thân bị cáo có hoàn cảnh khó khăn đang là lao đ ng ch nh nuôi 3 con nhỏ. Mặc dù số tiền tham gia đánh bạc của bị cáo là nhiều nh t. Nhưng xét về vai trò thì bị cáo xếp sau vai trò của bị cáo H1 và bị cáo V, mặt khác hành vi của bị cáo thu c loại t i phạm t nghiêm trọng. Do vậy căn c theo Điều 65 BLHS và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của H i đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, bị cáo Nguyễn Ngọc T1 có đủ điều kiện để đư c hưởng án treo, nên H i đồng xét xử phúc thẩm ch p nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc T1, cho bị cáo đư c hưởng án treo, giao bị cáo cho ch nh quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách như ý kiến của Kiểm sát viên đại diện cho Viện KSND tỉnh B tại phiên tòa phúc thẩm đã đề nghị nhằm thể hiện t nh nhân đạo của pháp luật.

- Xét kháng cáo xin giảm nh hình phạt của bị cáo Phạm Thị M thì th y: Tại c p phúc thẩm, bị cáo cung c p thêm đư c tài liệu, ch ng c mới là tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự đư c quy định tại khoản 2 Điều 51 B luật hình sự, nên H i đồng xét xử th y cần ch p nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nh hình phạt của bị cáo Phạm Thị M, sửa bản án sơ thẩm đối với bị cáo M như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tại phiên tòa là phù h p với quy định của pháp luật.

Về án ph : Áp dụng khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc H i

Do kháng cáo đư c ch p nhận, bị cáo Nguyễn Ngọc T1 và Phạm Thị M không phải chịu án ph hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị c p phúc thẩm không xem xét, giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn c vào điểm a khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 B luật tố tụng hình sự năm 2015: Ch p nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Ngọc T1, sửa bản án hình sự sơ thẩm.

Căn c khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của B luật hình sự.

Xử phạt Nguyễn Ngọc T1: 01 (m t) năm 01 (m t) tháng tù về t i “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 năm 02 tháng t nh từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo cho UBND xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

* Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

* Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Phạt bổ sung bằng tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.

Xác nhận bị cáo Nguyễn Ngọc T1 đã thi hành xong 15.200.000đ tiền phạt bổ sung và án ph hình sự sơ thẩm tại Biên lai 0002721 ngày 24/9/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang.

2. Căn c vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 B luật tố tụng hình sự năm 2015: Ch p nhận kháng cáo xin giảm nh hình phạt của bị cáo Phạm Thị M. Sửa bản án sơ thẩm.

Căn c khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của B luật hình sự.

Xử phạt Phạm Thị M: 07 (Bẩy) tháng tù về t i “Đánh bạc”, thời hạn tù t nh từ ngày bắt thi hành án, nhưng đư c trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/3/2024 đến ngày 13/6/2024.

Phạt bổ sung bằng tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.

Xác nhận bị cáo Phạm Thị M đã thi hành xong 15.200.000đ tiền phạt bổ sung và án ph hình sự sơ thẩm tại Biên lai 0002995 ngày 31/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang.

3. Án ph hình sự phúc thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc H i:

Bị cáo Nguyễn Ngọc T1 và bị cáo Phạm Thị M không phải chịu án ph hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ