- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC TỈNH ĐỒNG NAI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 183/2023/HS-ST Ngày: 18-9-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hải
Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông Phạm Quang Nghĩa
2. Bà Nguyễn Thị Thu
Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Châu Loan – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diến - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 182/2023/TLST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 170/2023/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 193/2023/HSST-QĐ ngày 12 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1991 tại Đồng Nai; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: ấp L, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Ngọc M và bà Nguyễn Thị Loan V, con: Không; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo Nguyễn Ngọc T bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24/4/2023 tại ấp L, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Nai cho đến nay.
Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Hoàng Nguyễn Thành Đ, sinh năm: 2001 (đã chết)
- Đại diện hợp pháp của bị hại:
1. Ông Hoàng Hải T1, sinh năm: 1971
2. Bà Vũ Thị H, sinh năm: 1973
Cùng địa chỉ: ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện theo ủy quyền của bà Vũ Thị H là ông Hoàng Hải T1, sinh năm: 1971 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
(Theo giấy ủy quyền ngày 04/4/2023)
- Bị đơn dân sự: Công ty TNHH N
Địa chỉ: số D đường B, khu phố C, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện theo pháp luật: Ông Lê Thắng S – Chức vụ: Giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hữu Đ1, sinh năm 1962 (vắng mặt)
Địa chỉ: khu phố T, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai
- Người làm chứng: Anh Đinh Quang T2, sinh năm: 1993 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp H, xã B, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 09 giờ 40 phút ngày 24/02/2023, Nguyễn Ngọc T điều khiển xe ô tô tải ben biển số 60C-556.35 lưu thông trên làn đường xe ô tô thuộc phần đường bên phải Quốc lộ A theo hướng tỉnh Bình Thuận đi thành phố Hồ Chí Minh. Đến Km 1809+300m Quốc lộ A, thuộc ấp H, xã B, huyện X, tỉnh Đồng Nai, T điều khiển xe ô tô biển số 60C-556.35 chuyển hướng qua phải để vào kho hàng của Công ty Trách nhiệm hữu hạn N nằm ở bên phải Quốc lộ A, tính theo hướng lưu thông của xe ô tô. Do thiếu chú ý quan sát, T không thấy xe mô tô biển số 60H5-229.62 do anh Hoàng Nguyễn Thành Đ, sinh năm 2001, thường trú tại ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai điều khiển đang lưu thông cùng chiều phía sau trên làn đường xe hỗn hợp bên phải Quốc lộ A đến gần. Lúc này, thấy xe ô tô biển số 60C-556.35 chuyển hướng chiếm hết làn đường mình đang lưu thông do bất ngờ nên anh Đ điều khiển xe tránh sang phải theo hướng đi nhưng khoảng cách gần, không kịp, phần bên trái xe mô tô biển số 60H5-229.62 đã va chạm với phần bên phải xe ô tô biển số 60C-556.35, anh Đ ngã xuống đường bị bánh trước bên phải ô tô trên cán đè lên người, gây tai nạn giao thông.
Hậu quả: Anh Hoàng Nguyễn Thành Đ chết tại chỗ.
* Tại biên bản khám nghiệm hiện trường lúc 10 giờ 15 phút ngày 24 tháng 02 năm 2023 tại Km 1809+300m Quốc lộ A, thuộc ấp H, xã B, huyện X, tỉnh Đồng Nai thể hiện:
Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn tại Km 1809+300m, Quốc lộ A, thuộc ấp H, xã B, huyện X, tỉnh Đồng Nai là đoạn đường thẳng, thảm nhựa bằng phẳng, mặt đường rộng 14m; ở giữa có dãy phân cách cứng phân chia hai chiều xe chạy ngược nhau; mỗi bên có 02 phần đường rộng 07m, mỗi phần đường có vạch sơn đơn, nứt nét, màu trắng (vạch sơn phân làn) chia phần đường làm 02 làn phương tiện lưu thông, làn đường xe ô tô rộng 3,5m, làn đường xe hỗn hợp rộng 3,5m.
Chọn hướng lưu thông tỉnh Bình Thuận đi thành phố Hồ Chí Minh làm chuẩn; Vạch chuẩn là mép phải đường và điểm mốc là trụ điện số 0534/03/01 trong lề phải Quốc lộ A tính theo hướng đi trên, mô tả như sau:
- Sau tai nạn, xe ô tô biển số 60C-556.35 (đánh số thứ tự 1) đỗ trong sân bê tông, trước kho hàng Công ty TNHH N, đầu xe hướng vào kho hàng, đuôi xe hướng chếch ra Quốc lộ A. T3 trục bánh trước bên phải cách vạch chuẩn 12,6m, tâm trục bánh sau bên phải cách vạch chuẩn 9,3m.
- Sau tai nạn, xe mô tô biển số 60H5-229.62 (đánh số thứ tự 2) nằm trong sân bê tông, trước kho hàng Công ty TNHH N, xe ngã qua trái, đầu xe hướng vào kho hàng, đuôi xe hướng ra Quốc lộ A. T3 trục bánh trước cách vạch chuẩn 8,7m, tâm trục bánh sau cách vạch chuẩn 7,6m và cách tâm trục bánh sau bên phải xe ô tô biển số 60C-556.35 về hướng tỉnh Bình Thuận 1,6m. Nối liền với vị trí xe ngã là vết cày cong, không liên tục, rõ nét, dài 3,5m (đánh số thứ tự 3), đầu vết cày trong sân bê tông, hướng tỉnh Bình Thuận, cách vạch chuẩn 4,6m.
- Sau tai nạn, nạn nhân Hoàng Nguyễn Thành Đ (đánh số thứ tự 4) đã chết, nằm bên hông trái xe ô tô biển số 60C-556.35, tư thế ngữa, đầu nạn nhân hướng vào kho hàng, cách vạch chuẩn 10,3m; Chân nạn nhân hướng Quốc lộ A, cách vạch chuẩn 8,7m và cách tâm trục bánh sau bên trái xe ô tô biển số 60C-556.35 về hướng thành phố Hồ Chí Minh 0,5m.
- Trong lề phải đường, cách tâm trục bánh trước xe ô tô biển số 60C-556.35 về hướng tỉnh Bình Thuận 7,4m là trụ điện số 0534/03/01 (đánh số thứ tự 5) xác định là điểm mốc hiện trường vụ tai nạn. Ngoài ra, không phát hiện dấu vết gì liên quan đến vụ tai nạn giao thông trên để lại hiện trường vụ tai nạn.
* Kết quả khám nghiệm phương tiện:
- Đối với xe ô tô biển số 60C-556.35: Má ngoài lốp bánh trước bên phải có vết ma sát mài mòn cao su, phạm vi (56x10)cm (dấu vết ma sát 1), tâm dấu vết cách van bơm 42cm và cách tâm trục bánh xe 42cm; Má ngoài lốp bánh trước bên phải có vết ma sát mài mòn cao su, phạm vi (18x2)cm (dấu vết ma sát 2), tâm dấu vết cách van bơm 10cm và cách tâm trục bánh xe 31cm; Má ngoài vành (mâm) bánh trước bên phải có vết ma sát, trầy xước kim loại phạm vi (23x7)cm, tâm dấu vết cách van bơm 23cm và cách tâm trục bánh xe 17cm; Má ngoài lốp bánh sau bên phải có vết ma sát mài mòn cao su, phạm vi (16x11)cm (dấu vết ma sát 1), tâm dấu vết cách van bơm 68cm và cách tâm trục bánh xe 46cm.
Ngoài ra không phát hiện dấu vết gì khác liên quan đến vụ tai nạn giao thông để lại trên phương tiện xe ô tô trên.
- Đối với xe mô tô biển số 60H5-229.62: Góc trái ốp mủ nhựa trên đầu xe có dấu vết ma sát mài mòn mủ nhựa phạm vi (4x1)cm, tâm dấu vết cách đầu tay lái trái 20cm và mặt đất 92cm; Gương chiếu hậu trái bị xô lệch từ trái qua phải 10cm so với bình thường; Chụp đèn xin đường trước bên trái có dấu vết ma sát phạm vi (5x3)cm, tâm dấu vết cách đầu tay lái trái 26cm và cách mặt đất 90cm; Đầu tay lái trái có dấu vết ma sát trầy xước kim loại, dính bụi đất màu trắng phạm vi (2x2)cm, tâm dấu vết cách mặt đất 94cm; Đầu vè chắn bùn bánh trước có dấu vết ma sát trầy tróc sơn và mài mòn mủ nhựa phạm vi (3x2)cm, tâm dấu vết cách mặt đất 53cm; Cần đạp số trước bị đẩy cong từ trước ra sau 20cm so với bình thường; Gác chân trước bên trái bị đẩy cong từ trước ra sau 10cm so với bình thường, đầu gác chân có dấu vết ma sát mài mòn cao su phạm vi (3x2)cm, tâm dấu vết cách mặt đất 30cm; Khung bảo vệ đuôi xe bên trái có vết ma sát mài mòn cao su phạm vi (20x3)cm, tâm dấu vết cách đuôi xe 23cm và cách mặt đất 86cm; Ốp mủ nhựa hông trái xe có dấu vết ma sát, trầy tróc sơn, phạm vi (30x7)cm, tâm dấu vết cách đuôi xe 20cm và cách mặt đất 78cm; Chụp đèn báo hãm, đèn xin đường sau bên trái bể tại vị trí; Ốp mủ nhựa bên hông phải xe bể nứt tại vị trí phạm vi (17x6)cm, tâm dấu vết cách đuôi xe 28cm và cách mặt đất 80cm; Ống xả móp méo, biến dạng gãy rời khỏi vị trí.
Ngoài ra không phát hiện dấu vết gì khác liên quan đến vụ tai nạn giao thông để lại trên phương tiện xe mô tô trên.
* Tại Kết luận giám định tư pháp số 349/TTĐKXCG ngày 24/3/2023 của Trung tâm Đ2, chi nhánh Đ3, kết luận:
- Tình trạng kỹ thuật sau tai nạn của xe ô tô tải biển số 60C-556.35 tại thời điểm kiểm tra: Xe hoạt động bình thường; Hệ thống đèn chiếu sáng, cụm đèn báo rẽ trước, sau, đèn kích thước, đèn phanh, đèn lùi và còi điện vẫn hoạt động tốt; Hệ thống phanh và hệ thống lái vẫn hoạt động tốt, sử dụng an toàn; Khung gầm, buồng lái và thân vỏ thùng hàng vẫn tốt; Lốp xe không bị nứt, chiều cao hoa lốp vẫn nằm trong giới hạn của nhà sản xuất; Động cơ, hệ thống truyền lực và các hệ thống khác vẫn hoạt động bình thường, sử dụng an toàn.
- Tình trạng kỹ thuật sau tai nạn của xe mô tô biển số 60H5-229.62 tại thời điểm kiểm tra: Những hư hỏng sau tai nạn: Thân vỏ xung quanh có nhiều vết trầy xước; Gương chiếu hậu trái lắp đặt không chắc chắn; Ốp nhựa sau đuôi xe bên phải bị nứt; Cụm đèn tín hiệu sau bể nứt; Cần đạp số và gắc chân trước bên trái bị cong; Tang trống phanh sau bị nứt; Ống xả khói móp méo, gãy rời khỏi vị trí; Ổ khóa điện khởi động bị hỏng nên không khởi động được động cơ và không kiểm tra được sự hoạt động của hệ thống đèn; Hệ thống phanh: Phanh trước loại cơ khí, dẫn động phanh bằng cáp; Phanh sau loại cơ khí, dẫn động phanh bằng thanh kéo; Phanh trước và phanh sau hoạt động bình thường; Hệ thống lái: Càng lái cân đối, điều khiển nhẹ nhàng, lắp đặt chắc chắn với trục lái; Giảm chấn của trục lái hoạt động tốt; Trục lái không có độ rơ dọc trục và độ rơ hướng kính; Góc quay lái sang bên phải và sang bên trái bằng nhau và có cơ cấu hạn chế hành trình của góc quay lái; Các chi tiết đầy đủ, lắp đặt đúng vị trí và chắc chắn; Vỏ lốp: Lốp xe không bị chém sứt, không bị nứt, chiều cao hoa lốp còn nằm trong giới hạn của nhà sản xuất, sử dụng an toàn; Hệ thống đèn chiếu sáng, tín hiệu: Cụm đèn sau bị bể, các đèn còn lại đầy đủ, lắp đặt đúng vị trí; Động cơ không bị nứt bể, hệ thống truyền lực, khung xe và các hệ thống khác vẫn bình thường.
Kết luận: Căn cứ vào biên bản khám nghiệm phương tiện và tình trạng xe khi kiểm tra thì an toàn kỹ thuật (hệ thống phanh, hệ thống lái,…) của xe ô tô tải (tự đổ) biển số 60C-556.35 và xe mô tô biển số 60H5-229.62 quá trình trước, trong và sau khi xảy ra vụ tai nạn vẫn đảm bảo an toàn.
* Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 390/KL-KTHS ngày 16/3/2023 của Phòng K - Công an tỉnh Đ đối với anh Hoàng Nguyễn Thành Đ, kết luận:
- Dấu hiệu chính: Bên ngoài xây sát da dưới trước vú trái, xây sát da vùng mặt ngoài cánh - khuỷu tay phải, xây sát da vùng đùi và đầu gối trái. Giải phẩu bên trong tụ máu dưới da vùng ngực, gãy giữa xương ức, gãy đa cung xương sườn hai bên. Hai phổi dập rách tụ máu màng phổi, vỡ phức tạp cơ tim.
- Nguyên nhân tử vong: Chấn thương ngực kín, gãy giữa xương ức, gãy đa cung xương sườn, dập rách phổi, vỡ cơ tim
- Nồng độ Ethanol trong máu: 0,01 mg/100ml.
* Tại biên bản ghi nhận kết quả nồng độ cồn của Phòng C - Công an Đ xác nhận: Nồng độ cồn trong máu của Nguyễn Ngọc T vào 11 giờ 50 phút ngày 24/02/2023 là 000 mg/l.
- Tại phiếu kết quả xét nghiệm ngày 24/02/2022 của Trung tâm y tế huyện X đối với Nguyễn Ngọc T xác nhận: Âm tính đối với tất cả kết quả xét nghiệm chất kích thích.
* Điểm va chạm.
Căn cứ kết quả khám nghiệm hiện trường, khám phương tiện, kết quả giám định và các tài liệu thu nhập được xác định:
Điểm va chạm trên phương tiện: Phần bên trái xe mô tô biển số 60H5-229.62 va chạm với phần ngoài lốp bánh trước, vành bánh trước bên phải và má ngoài lốp bánh sau bên phải xe ô tô biển số 60C-556.35.
- Điểm va chạm trên đường: Mép phải Quốc lộ A (tính theo hướng lưu thông tỉnh Bình Thuận đi thành phố Hồ Chí Minh làm chuẩn) và trong sân bê tông của kho hàng Công ty TNHH N (trong lề phải đường), tại Km 1809+300m Quốc lộ A, thuộc ấp H, xã B, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
* Vật chứng vụ án:
- 01 (một) đoạn dữ liệu điện tử (camera ghi hình) ghi nhận diễn biến vụ án, được trích xuất từ camera an ninh nhà người dân gắn gần hiện trường.
- 01 (một) giấy phép lái xe hạng C của Nguyễn Ngọc T.
- Xe ô tô tải biển số 60C-556.35, nhãn hiệu TMT, loại xe: tải tự đổ, màu sơn: xanh. Giấy chứng nhận đăng ký và chứng nhận kiểm định xe ô tô tải biển số 60C-556.35.
- 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 của anh Hoàng Nguyễn Thành Đ; Xe mô tô biển số 60H5-229.62, nhãn hiệu Honda, số loại: Wave A, màu trắng.
* Về trách nhiệm dân sự:
Sau tai nạn, Nguyễn Ngọc T và đại diện công ty Trách nhiệm hữu hạn N (chủ xe ô tô biển số 60C-556.35) đã đến gia đình anh Hoàng Nguyễn Thành Đ thăm hỏi và thỏa thuận về dân sự với số tiền 230.000.000 đồng (Hai trăm ba mươi triệu đồng). Người đại diện hợp pháp của anh Hoàng Nguyễn Thành Đ là ông Hoàng Hải T1, sinh năm: 1971, trú tại ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai (cha ruột anh Đ) đã nhận đủ số tiền trên, không yêu cầu thêm về dân sự và có đơn bãi nại, đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Ngọc T, cam kết không khiếu kiện hoặc khiếu nại về sau.
Tại bản cáo trạng số 185/CT-VKS ngày 21 tháng 8 năm 2023 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo bản cáo trạng và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Tình tiết tăng nặng: Không có; Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Ngoài ra, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc T từ 01 năm đến 01 năm 04 tháng tù.
Tại phiên tòa, bị cáo trình bày: bị cáo xác định bị hại có một phần lỗi là do chạy với tốc độ nhanh, bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, hoàn cảnh gia đình khó khăn, nhân thân tốt và chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo gửi lời xin lỗi đến gia định bị hại. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét Điều 54 Bộ luật hình sự áp dụng dưới khung hình phạt và Điều 65 Bộ luật hình sự để cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện X, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Căn cứ vào bản tự khai, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung và sự thừa nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ, thể hiện:
Vào khoảng 09 giờ 40 phút ngày 24/02/2023, tại Km 1809+300m Quốc lộ A thuộc ấp H, xã B, huyện X, tỉnh Đồng Nai; Nguyễn Ngọc T điều khiển xe ô tô tải biển số 60C-556.35 chuyển hướng không đảm bảo an toàn đã va chạm với xe mô tô biển số 60H5-229.62 do anh Hoàng Nguyễn Thành Đ lưu thông cùng chiều phía sau gây tai nạn giao thông. Hậu quả anh Hoàng Nguyễn Thành Đ chết tại chỗ.
Hành vi nêu trên của Nguyễn Ngọc T đã vi phạm vào khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ. Với hậu quả nêu trên đã phạm vào tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Luật Giao thông đường bộ quy định.
Điều 15. Chuyển hướng xe:
1.
2. Trong khi chuyển hướng, người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải nhường quyền đi trước cho người đi bộ, người đi xe đạp đang đi trên phần đường dành riêng cho họ, nhường đường cho các xe đi ngược chiều và chỉ cho xe chuyển hướng khi quan sát thấy không trở ngại hoặc nguy hiểm cho người và phương tiện khác.
Do vậy, việc Cáo trạng truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) là có căn cứ và đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, việc bị cáo đã không thực hiện đúng các quy tắc giao thông đường bộ, xâm phạm đến an toàn giao thông tại địa phương, là nguyên nhân trực tiếp gây ra hậu quả về tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác nên cần áp dụng mức hình phạt nghiêm, tương xứng, phù hợp với hành vi phạm tội, nhân thân, tính chất và mức độ phạm tội của bị cáo nhằm răn đe bị cáo và để giáo dục, phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Ngọc T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin bãi nại. Ngoài ra, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét Điều 54 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) áp dụng dưới khung hình phạt để cho bị cáo được hưởng án treo. Tuy nhiên, bị cáo yêu cầu áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) là không phù hợp với quy định pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến an toàn giao thông, gây thiệt hại về tính mạng cho người khác. Mặt khác, hiện nay tình hình tội phạm vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ có chiều hướng gia tăng phức tạp, hậu quả của việc phạm tội để lại hết sức nặng nề, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội tại huyện X nói riêng cũng như toàn tỉnh Đồng Nai nói chung. Do đó, cần phải xử lý nghiêm minh để răn đe và phòng ngừa đối với loại tội phạm này nên Hội đồng xét xử không chấp nhận cho bị cáo được hưởng án treo theo Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) đồng thời cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
Về trách nhiệm dân sự:
Sau tai nạn, Nguyễn Ngọc T và đại diện công ty Trách nhiệm hữu hạn N (chủ xe ô tô biển số 60C-556.35) đã đến gia đình anh Hoàng Nguyễn Thành Đ thăm hỏi và thỏa thuận về dân sự với số tiền 230.000.000 đồng (Hai trăm ba mươi triệu đồng). Người đại diện hợp pháp của anh Hoàng Nguyễn Thành Đ là ông Hoàng Hải T1, sinh năm: 1971, trú tại ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai (cha ruột anh Đ) đã nhận đủ số tiền trên, không yêu cầu thêm về dân sự và có đơn bãi nại, đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Ngọc T, cam kết không khiếu kiện hoặc khiếu nại về sau nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng vụ án:
- Tiếp tục lưu hồ sơ 01 (một) đĩa DVD lưu 01 (một) đoạn dữ liệu điện tử (camera ghi hình) diễn biến vụ tai nạn giao thông nêu trên trong hồ sơ vụ án.
- Trả lại 01 (một) giấy phép lái xe hạng C số: xxxxxxxxxxxx do Sở Giao thông vận tải thành phố H cấp ngày 29/8/2018 cho Nguyễn Ngọc T.
- Xe ô tô tải biển số 60C-556.35, nhãn hiệu TMT, loại xe: tải tự đổ, màu sơn: xanh. Giấy chứng nhận đăng ký và chứng nhận kiểm định xe ô tô tải biển số 60C-556.35. Quá trình kiểm tra, xác minh xác định xe ô tô trên do Công ty Trách nhiệm hữu hạn N là chủ sở hữu và đã ủy quyền giải quyết cho ông Nguyễn Hữu Đ1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả xe ô tô và giấy tờ trên trên cho Nguyễn Hữu Đ1, là người đại diện hợp pháp của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật nên Tòa án không xem xét.
- 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 của anh Hoàng Nguyễn Thành Đ. Qua xác minh, xác định giấy phép lái xe trên số: xxxxxxxxxxxx do Sở Giao thông vận tải thành phố H cấp ngày 17/6/2020 cho anh Đ (không thời hạn giá trị sử dụng); Xe mô tô biển số 60H5-229.62, nhãn hiệu Honda, số loại: Wave A, màu trắng. Quá trình điều tra, xác định, xe mô tô trên do anh Hoàng Nguyễn Thành Đ là chủ sở hữu hợp pháp, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả xe mô tô và giấy tờ trên trên cho Hoàng Thanh H1, là người đại diện hợp pháp của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật nên không xem xét.
Đối với ý kiến và đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
[1] Về hình phạt:
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc T 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
[2] Về biện pháp tư pháp
+ Tiếp tục lưu hồ sơ 01 (một) đĩa DVD lưu 01 (một) đoạn dữ liệu điện tử (camera ghi hình) diễn biến vụ tai nạn giao thông nêu trên trong hồ sơ vụ án.
+ Trả lại cho bị cáo Nguyễn Ngọc T 01 (một) giấy phép lái xe hạng C số: xxxxxxxxxxxx do Sở Giao thông vận tải thành phố H cấp ngày 29/8/2018.
(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 23/8/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai).
[3] Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Bị cáo Nguyễn Ngọc T phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Về kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Xuân Lộc; - Công an huyện Xuân Lộc; - Chi cục THADS huyện Xuân Lộc; - Bị cáo; - Các đương sự; - Hồ sơ thi hành án; - Lưu hồ sơ vụ án. Thành viên Hội đồng xét xử Nguyễn Thị Thu Linh Thị Ngọc Thạch | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Hải Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thanh Hải |