- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "TTT- N.H.Q"
- Tòa quyết gì? Xử: I. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh anh N.H.Q , sửa bản án sơ thẩm số 389/HNGĐ-ST ngày 21/9/2023 của tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm cụ thể như sau:
- Căn cứ chính? Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 183/2023/HNGĐ-PT Ngày : 20/12/2023 “V/v: Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tôn Thị Xuân Thủy
- Các thẩm phán: Bà Trần Thị Thanh Thảo và ông Trịnh Đăng Huấn;
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trương Việt Hoa - Thư ký;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà nội tham gia phiên tòa: Bà Ngô Phương Liên - Kiểm sát viên.
Trong ngày 20/12/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, mở phiên tòa công khai, xét xử phúc thẩm vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 178/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2023, về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2023/QĐPT-HNGĐ ngày 06/12/2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị T.T.T, sinh năm 1983. ĐKHKTT: số nhà 19/24, ngõ 371, TDP Tháp, phường Đại Mỗ, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Hiện tạm trú tại: Số 2, ngách 401/133 Xuân Lộc 1, phường Xuân Đỉnh, quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên toà.
Bị đơn: Anh N.H.Q, sinh năm 1963; ĐKHKTT: số nhà 19/24, ngõ 371, TDP Pháp, phường Đại Mỗ, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và nguyên đơn T.T.T trình bày : Chị và anh N.H.Q kết hôn ngày 23/02/2017 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Đại Mỗ, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội. Ngay sau khi kết hôn, cuộc sống chung của vợ chồng đã không hạnh phúc, thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Chị không được chồng và gia đình nhà chồng tôn trọng. Từ tháng 7/2023 chị đưa con ra ngoài thuê nhà sinh sống, còn anh Q và con riêng vẫn ở phường Đại Mỗ, Nam Từ Liêm. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Q.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu N.T.A, sinh ngày 14/8/2017. Ly hôn, chị xin được nuôi con chung và đề nghị anh Q cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/01 tháng. Theo chị hiện con chung là con gái và còn nhỏ, từ bé chị luôn là người chăm sóc, gần gũi con. Công việc của chị hiện nay là làm hành chính tại Công ty may, thu nhập hàng tháng từ 7 triệu đến 7,5 triệu đồng. Từ khi ra ngoài mẹ con chị vẫn đi thuê trọ, cuộc sống của hai mẹ con luôn vui vẻ, đầm ấm.
Về tài sản chung, công nợ : Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn trong vụ án anh N.H.Q có lời khai trình bày : Về thời gian và điều kiện kết hôn cũng như quá trình chung sống như chị T trình bày là đúng. Vợ chồng không hạnh phúc, ngay từ sau khi vừa kết hôn. Một năm mấy lần chị T đòi ly hôn, đến nay chị T đã đưa con ra ngoài sinh sống, vợ chồng ly thân từ ngày 16/7/2023. Anh cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn nếu chị T không xin ly hôn thì anh cũng có đơn xin ly hôn. Nay chị T có đơn xin ly hôn thì anh đồng ý và đề nghị Toà án giải quyết cho anh và chị T được ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung như chị T đã trình bày. Khi ly hôn anh có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu chị T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Trường hợp, Toà án giao con cho chị T nuôi dưỡng thì anh không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung vì anh không đồng ý để chị T nuôi con chung. Anh đề nghị giao con cho ai nuôi phải đảm bảo quyền lợi cho cháu. Theo anh Q thì giao con cho anh nuôi là phù hợp hơn vì anh có nhà ở trong khi chị T phải đi thuê nhà để ở, hiện anh là bảo vệ làm ca đêm tại Công ty TNHH một thành viên kinh doanh dịch vụ nhà Hà Nội có thu nhập bình quân 11.000.000đồng/ tháng ổn định hơn chị T.
Về tài sản chung, công nợ : Vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu giải quyết.
Với nội dung trên tại bản án số : 389/2023 ngày 21/9/2023 của tòa án nhân quận Nam Từ Liêm đã áp dụng : Các Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 271; Điều 273; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Các Điều 19; Điều 51; Điều 55; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Xử : Chấp yêu cầu xin ly hôn của chị T.T.T đối với anh N.H.Q. Ghi nhận sự tự nguyện thuận tình ly hôn của chị T.T.T và anh N.H.Q.
Về con chung : Giao cháu N.T.A, sinh ngày 14/8/2017 cho chị T.T.T trực tiếp nuôi dưỡng. Anh N.H.Q có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con 2.000.000đ/01tháng, kể từ tháng 9/2023 cho đến khi cháu N.T.A đủ 18 tuổi hoặc đến khi có yêu cầu mới. Anh N.H.Q có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn giải quyết về án phí ly hôn sơ thẩm và ấn định thời hạn kháng cáo của đương sự trong vụ án.
Sau khi Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm xét xử, ngày 27-9-2023 anh N.H.Q nộp đơn kháng cáo. Ngày 29/9/2023 anh Q nộp tạm ứng án phí phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Anh N.H.Q đề nghị xem xét nội dung kháng cáo về phần giao con chung, anh đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con. Chị T.T.T nhất trí với đề nghị của anh Q. Hội đồng xét xử phúc thẩm ghi nhận thỏa thuận của anh chị.
- Ý kiến của Kiểm sát viên về hoạt động tiến hành tố tụng của Tòa án và Hội đồng xét xử phúc thẩm là đúng quy định của pháp luật. Đương sự đã được thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng.Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của anh N.H.Q, sửa bản án sơ thẩm ghi nhận thỏa thuận của đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, được thẩm tra công khai tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của kiểm sát viên.
Về tố tụng:
Anh N.H.Q có mặt tại phiên tòa sơ thẩm ngày 21/9/2023, nộp đơn kháng cáo ngày 27/9/2023 và nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên được coi là kháng cáo hợp lệ.
.Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, xác định tranh chấp Hôn nhân & Gia đình và giải quyết đúng thẩm quyền cũng như thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung kháng cáo:
.Nội dung kháng cáo của Anh N.H.Q về phần giao quyền trực tiếp nuôi con. Hội đồng xét xử thấy rằng :
Về con chung: Chị T.T.T và anh N.H.Q có 01 con chung là N.T.A, sinh ngày 14/8/2017. Ly hôn cả anh Q, chị T đều có nguyện vọng được nuôi con chung. Xét nguyện vọng của anh Q, chị T đều là chính đáng. Anh Q đề nghị được trực tiếp nuôi con chung và không yeu cầu chị T cấp dưỡng. Chị T cũng nhất trí nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo này của anh Q.
.Do kháng cáo của anh Q được chấp nhận nên sửa án sơ thẩm và anh N.H.Q không phải chịu án phí Hôn nhân & Gia đình phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Từ nhận định trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2 Điều 308, khoản 2 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án,
Xử: I. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh anh N.H.Q , sửa bản án sơ thẩm số 389/HNGĐ-ST ngày 21/9/2023 của tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm cụ thể như sau:
Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị T.T.T. Ghi nhận sự tự nguyện thuận tình ly hôn của chị T.T.T và anh N.H.Q.
Về con chung : Ghi nhận sự thỏa thuận của anh chị : Giao cháu N.T.A, sinh ngày 14/8/2017 cho anh N.H.Q trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn tiền cấp dưỡng nuôi con chung của chị T.T.T cho đến khi cháu N.T.A đủ 18 tuổi hoặc đến khi có yêu cầu mới.
Chị T.T.T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về tài sản chung, công nợ và các quan hệ khác phát sinh từ quan hệ hôn nhân giữa anh Q, chị T do các bên đương sự không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.
Về án phí: Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm : chị T.T.T phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị T đã nộp 300.000đ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số AA/2020/0035481 ngày 25/7/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm,
II.Án phí phúc thẩm: Anh N.H.Q không phải chịu án phí phúc thẩm Hôn nhân & Gia đình. Anh được hoàn trả 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2020 0035598 ngày 29-9-2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm thành phố Hà Nội.
III.Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 20-12-2023./.
- Nơi nhận:
| - Các đương sự; - VKSND TP Hà Nội; -Chi cục THA dân sự Q.Nam Từ Liêm; - TAND Q.Nam Từ Liêm. - Lưu: Văn Phòng, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TÔN THỊ XUÂN THỦY |