- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Minh H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Án số: 183/2022/HS-ST Ngày 07 - 12 - 2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Minh Hải và ông Nguyễn Thế Hưng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Quỳnh Anh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Lan Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 172/TLST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 182/2022/QĐXX-HS ngày 25 tháng 11 năm 2022, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Minh H, sinh ngày 16/12/1982; nơi sinh: Tỉnh Thái Bình; hộ khẩu thường trú và cư trú: Thôn T, xã NX, huyện VT, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K và bà Nguyễn Thị T; đã ly hôn chị Lê Thị P và có 01 con.
Tiền án:
+ Bản án số 83/2018/HSST ngày 30/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, xử phạt bị cáo 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, truy thu khoản thu lợi bất chính số tiền 2.400.000 đồng, án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/7/2019, chấp hành xong án phí và khoản thu lợi bất chính ngày 25/02/2019;
+ Bản án số 57/2021/HSST ngày 22/4/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xử phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng, chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/6/2022, chấp hành xong án phí ngày 14/9/2021.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/9/2022, tạm giam từ ngày 17/9/2022 đến nay, trích xuất có mặt.
* Người chứng kiến:
- Anh Văn Đức B, sinh năm 1978 (vắng mặt);
Nơi cư trú: Thôn HN, xã TS, huyện KX, tỉnh Thái Bình.
- Anh Nguyễn Tiến V, sinh năm 1973 (vắng mặt);
Nơi cư trú: Số nhà B, ngõ C, đường NTr, tổ D, phường Phú Khánh, thành phố TB, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 12 giờ ngày 14/9/2022, tại khu vực trước cửa số nhà 143, đường Phan Bá Vành, tổ 17, phường Kỳ Bá, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, tổ công tác của Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình phát hiện bị cáo Nguyễn Minh H có biểu hiện liên quan đến hoạt động ma túy nên yêu cầu bị cáo dừng lại để kiểm tra. Trước sự chứng kiến của những người chứng kiến, bị cáo lấy từ túi quần bên phải của bị cáo đang mặc ra 02 gói được gói bằng giấy tráng kim màu trắng giao nộp cho tổ công tác và khai nhận đó là ma túy, loại Heroine, nguồn gốc là do trước đó khoảng 11 giờ 15 phút cùng ngày bị cáo mua giá 400.000 đồng của một người nam giới không biết họ tên, năm sinh, địa chỉ tại khu vực đường Phan Bá Vành, phường Kỳ Bá, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình để bản thân sử dụng. Tổ công tác mở kiểm tra bên trong 02 gói đều chứa chất bột màu trắng dạng cục nên đã niêm phong lại sau đó yêu cầu bị cáo và mời những người chứng kiến về trụ sở Công an phường Kỳ Bá, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình để làm việc. Tại trụ sở Công an phường, tổ công tác kiểm tra người bị cáo, thu giữ tại túi quần bên trái của bị cáo đang mặc 01 điện thoại di động hiệu Oppo, màu đỏ đã cũ. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và biên bản quản lý, niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật.
Tại bản kết luận giám định số 364/KL-KTHS(MT) ngày 15/9/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: “Mẫu vật gửi giám định quản lý của Nguyễn Minh H là ma túy, loại Heroine (Hêrôin), có khối lượng 0,3117 gam (không phẩy ba nghìn một trăm mười bảy gam)”.
Tại cơ quan điều tra những người chứng kiến anh Văn Đức B và anh Nguyễn Tiến V đều khai: Khoảng 12 giờ ngày 14/9/2022, tại khu vực phía trước số nhà 143, đường Phan Bá Vành, tổ 17, phường Kỳ Bá, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, bị cáo Nguyễn Minh H lấy ra từ túi quần bên phải phía trước của bị cáo đang mặc 02 gói được gói bằng giấy tráng kim màu trắng giao nộp cho tổ công tác của Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình và khai nhận đó là ma túy loại Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác niêm phong 02 gói lại. Tại trụ sở Công an phường Kỳ Bá, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, tổ công tác thu giữ tại túi quần bên trái của bị cáo đang mặc 01 điện thoại di động hiệu Oppo, màu đỏ đã cũ. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và biên bản quản lý, niêm phong vật chứng.
Bản cáo trạng số: 192/CT - VKSTPTB ngày 21/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Nguyễn Minh H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Kiểm sát viên luận tội: Lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Tại phiên toà không phát sinh tình tiết mới làm thay đổi nội dung vụ án nên khẳng định cáo trạng truy tố bị cáo là đúng pháp luật. Kiểm sát viên phân tích nguyên nhân, điều kiện phạm tội, đánh giá chứng cứ xác định có tội, xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, hậu quả, nhân thân của bị cáo, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên giữ nguyên quan điểm truy tố theo cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- Về hình phạt: Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 14/9/2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung là tiền đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị xử lý vật chứng bằng hình thức: Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo hoàn lại sau giám định; trả lại 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đỏ, đã cũ cho bị cáo.
Bị cáo Nguyễn Minh H xác định cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên bị cáo không trình bày lời bào chữa, không trình bày ý kiến tranh luận về tội danh, mức hình phạt và các nội dung khác do Kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa. Kết thúc phần tranh luận bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố: Các tài liệu, chứng cứ do Điều tra viên và Kiểm sát viên thu thập trong quá trình điều tra vụ án đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật và đó là các tài liệu, chứng cứ hợp pháp chứng minh cho hành vi phạm tội của bị cáo. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên và cơ quan điều tra, Viện kiểm sát trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên bị cáo không khiếu nại về các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng.
[2] Căn cứ kết tội đối với bị cáo: Tại cơ quan điều tra bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với Cáo trạng đã truy tố, đồng thời còn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; Bản Kết luận giám định; lời khai của người chứng kiến; cùng các tài liệu, chứng cứ khác chứng minh về hành vi phạm tội của bị cáo thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 12 giờ ngày 14/9/2022, tại khu vực trước cửa số nhà 143, đường Phan Bá Vành, tổ 17, phường Kỳ Bá, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, bị cáo Nguyễn Minh H có hành vi tàng trữ trái phép trên người bị cáo 02 gói ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,3117 gam mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình bắt quả tang. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ, đã 01 lần bị Tòa án xét xử và áp dụng hình phạt tù về cùng tội lẽ ra bị cáo phải nhận thức rõ các tác hại do ma túy gây ra cũng như phải hiểu được quy định của pháp luật về việc nghiêm cấm đối với mọi hành vi liên quan đến ma túy, song để đạt được nhu cầu sử dụng ma tuý của bản thân nên bị cáo đã cố ý phạm tội. Bị cáo có 02 tiền án: Bản án số 83/2018/HSST ngày 30/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình xử phạt bị cáo 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, ngày 05/7/2019 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù chưa được xóa án thì đến ngày 15/01/2021 bị cáo tiếp tục phạm tội và Bản án số 57/2021/HSST ngày 22/4/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xử phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, ngày 15/6/2022 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù chưa được xóa án thì đến ngày 14/9/2022 bị cáo tiếp tục phạm tội mới nên xác định bị cáo tái phạm nguy hiểm. Xét, hành vi phạm tội của bị cáo phù hợp với khung hình phạt tăng nặng của tội phạm quy định tại khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Điều 249 - Tội tàng trữ trái phép chất ma túy: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:a)... 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm: a) ... o) Tái phạm nguy hiểm”. Như vậy, hành vi của bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và khung hình phạt của Điều luật là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Đối với người nam giới lái xe ôm chở bị cáo đi mua ma túy, bị cáo không nói cho người này biết chở bị cáo đi đâu, làm gì và bị cáo không biết họ và tên, năm sinh, địa chỉ của người này nên cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý là phù hợp.
[4] Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy là nguy hiểm cho xã hội, vì hành vi đó đã cố ý xâm phạm đến các quy định của nhà nước về quản lý các chất ma túy, đe dọa nghiêm trọng đến an toàn, trật tự công cộng, sức khỏe của con người cũng như ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Xét nguyên nhân và điều kiện thực hiện hành vi phạm tội là để đạt được nhu cầu sử dụng ma tuý của bản thân nên bị cáo không tuân thủ pháp luật, vì vậy cần xét xử bị cáo nghiêm minh.
[5] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thì thấy bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình nên khi áp dụng hình phạt bị cáo được áp dụng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Về mức hình phạt và biện pháp chấp hành hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử sẽ quyết định mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra là phạt tù có thời hạn - buộc bị cáo cách ly ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để đảm bảo hiệu quả của việc cải tạo, giáo dục cũng như phòng ngừa tội phạm chung. Bị cáo là người lao động tự do, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là tiền đối với bị cáo.
[7] Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo khai mua của 01 người nam giới không biết tên, tuổi, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra, xử lý người bán ma tuý cho bị cáo là phù hợp.
[8] Về xử lý vật chứng: Số ma túy loại Heroine thu giữ của bị cáo được hoàn lại sau giám định, là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
[9] Về tài sản khác: 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đỏ, đã cũ thu giữ của bị cáo, xét không liên quan đến hành vi phạm tội, tại phiên tòa bị cáo có nguyện vọng xin lại nên cần tuyên trả lại cho bị cáo.
[10] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Minh H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Minh H có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H 05 (năm) tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 14/9/2022.
3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ số ma túy loại Heroine thu của bị cáo Nguyễn Minh H hoàn lại sau giám định và bao gói.
4. Tài sản khác: Tuyên trả lại 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đỏ, đã cũ cho bị cáo Nguyễn Minh H.
Vật chứng và tài sản khác có đặc điểm như ghi tại: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 14/9/2022; Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 14/9/2022; Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an thành phố Thái Bình và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, ngày 22/11/2022.
5. Án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Minh H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Quyền kháng cáo: Án tuyên công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 07/12/2022.
7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - Bị cáo; - UBND xã Nguyên Xá, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình; - VKSND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình; - Chi cục THADS TP.Thái Bình, tỉnh Thái Bình; - Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; - Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình; - VKS tỉnh Thái Bình; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hân T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Hân |