vanban.org

Bản án 183/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Dương Tuyên án 12/08/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 12/08/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án số: 86/2021/HS-ST ngày 15 tháng 12 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương về hình phạt.

Xử phạt bị cáo Trần Quang L 03 (ba) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án. Về án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo phải nộp 200.000 đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Quang L - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án số: 86/2021/HS-ST ngày 15 tháng 12 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương về hình phạt.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 344 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 183/2022/HS-PT
Ngày 12-8-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Huy Toàn.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Tài.

Ông Lê Quân Vương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Mai Xuân Tùng – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Tấn Lập - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 8 năm 2022, tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 28/2022/TLPT-HS ngày 19 tháng 01 năm 2022, do có kháng cáo của bị cáo Trần Quang L đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 86/2021/HS-ST ngày 15 tháng 12 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương.

- Bị cáo có kháng cáo:

Trần Quang L sinh ngày 26 tháng 5 năm 2002; tại tỉnh Bình Dương; nơi đăng ký thường trú: ấp N, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Quang N sinh năm 1969 và bà Hồ Thị T sinh năm 1969; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra, còn có 03 đại diện hợp pháp của bị hại, 02 người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án do không kháng cáo, không bị kháng nghị và không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Quang L chưa có giấy phép lái xe môtô hạng A1 theo quy định. Khoảng 16 giờ 45 phút, ngày 11 tháng 12 năm 2020, L điều khiển xe môtô biển số 61H1-589.62 đi một mình trên đoạn đường 13/3 hướng từ bùng binh Cây Keo đến ngã tư đường 13/3 giao nhau với đường Cách mạng tháng Tám. Khi đến đoạn đường thuộc khu phố 2, thị trấn D, huyện D, L phát hiện phía trước có xe môtô biển số 61V2-1996 do ông Đặng Trung H sinh năm 1944 điều khiển đi cùng chiều đang bật đèn tín hiệu xin rẽ trái. Tuy nhiên, L vẫn điều khiển xe môtô lấn sang làn đường xe ôtô để vượt bên trái xe mô tô của ông H, dẫn đến phần đầu bên phải xe môtô do L điều khiển va chạm vào phía sau bên trái xe môtô do ông H điều khiển, làm ông H ngã xuống đường, ông H được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Chợ Rẫy, Thành phố Hồ Chí Minh, đến ngày 13 tháng 12 năm 2020 thì tử vong.

Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 052/GĐPY ngày 14 tháng 12 năm 2020, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương đối với tử thi Đặng Trung H:

Dấu hiệu chính qua giám định: nhiều vết sây sát da, bầm tụ máu bên ngoài; vỡ xương sọ; tụ máu dưới màng cứng hai bán cầu đại não (nặng bên phải); xuất huyết dưới nhện hai bán cầu đại não, tiểu não; dập, hoại tử não vùng thái dương phải. Nguyên nhân chết của nạn nhân: chấn thương sọ não.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 86/2021/HS-ST ngày 15 tháng 12 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương đã quyết định:

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự,

Xử phạt bị cáo Trần Quang L 03 (ba) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 22 tháng 12 năm 2021, bị cáo L có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu ý kiến: Đơn kháng cáo của bị cáo thực hiện trong thời hạn luật định. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có căn cứ xác định bị cáo điều khiển phương tiện giao thông không có giấy phép lái xe, vi phạm Luật Giao thông đường bộ gây hậu quả chết người nên có đủ cơ sở kết luận hành vi phạm tội của bị cáo như cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ mới, mức hình phạt mà cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, do đó đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Đối với kháng cáo xin hưởng án treo, bị cáo không chấp hành pháp luật khi chưa có giấy phép lái xe mô tô mà vẫn điều khiển xe tham gia giao thông gây hậu quả nghiêm trọng nên không đủ điều kiện cho bị cáo hưởng án treo theo Điều 65 của Bộ luật Hình sự và Nghị quyết 02/2018/HĐTP TANDTC. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: mong Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Kháng cáo của bị cáo trong thời hạn luật định, hợp lệ nên vụ án được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương, hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện việc điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Tòa án cấp sơ thẩm xác định. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: khoảng 16 giờ 45 phút, ngày 11 tháng 12 năm 2020, tại đoạn đường 13/3, thuộc khu phố 2, thị trấn D, huyện D, bị cáo L điều khiển xe môtô biển số 61H1-589.62 vượt xe môtô biển số 61V2-1996 do ông Đặng Trung H điều khiển đi cùng chiều phía trước không đảm bảo an toàn, làm cho phần đầu xe bên phải xe của L va chạm vào bên trái phía sau xe do ông H, ông H ngã xuống đường và được đưa đến bệnh viện cấp cứu nhưng đến ngày 13 tháng 12 năm 2020 thì tử vong. Hành vi bị cáo điều khiển xe mô tô khi chưa có giấy phép lái xe theo quy định và điều khiển xe mô tô vượt không đảm bảo an toàn, vi phạm khoản 9 Điều 8, khoản 2 Điều 14 của Luật Giao thông đường bộ gây hậu quả nghiêm trọng.

Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, ảnh hưởng xấu đến đến trật tự an toàn giao thông tại địa phương, gây tâm lý hoang mang cho người tham gia giao thông, gây thiệt hại tính mạng của người khác, hành vi của bị cáo cần phải được xét xử nghiêm để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng, nhưng tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ mới, bị cáo là người không có ý thức chấp hành pháp luật, khi chưa có giấy phép lái xe mô tô mà vẫn điều khiển xe mô tô phân khối lớn tham gia giao thông gây hậu quả nghiêm trọng, việc không cách ly bị cáo ra ngoài xã hội sẽ gây nguy hiểm và không đáp ứng được công tác phòng, chống tội phạm tại địa phương nên không đủ điều kiện cho bị cáo hưởng án treo theo Điều 65 của Bộ luật Hình sự và Nghị quyết 02/2018/HĐTP TANDTC của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về việc đề nghị không chấp nhận kháng cáo đối với bị cáo là phù hợp.

Kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 344, Điều 345, điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án số: 86/2021/HS-ST ngày 15 tháng 12 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương về hình phạt.

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự,

Xử phạt bị cáo Trần Quang L 03 (ba) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

2. Về án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo phải nộp 200.000 đồng.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ