vanban.org

Bản án 183/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Đông Anh, TP. Hà Nội Tuyên án 27/10/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn K 14 (mƣời bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/06/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn K - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐA
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 183/2021/HSST
Ngày 27 - 10 - 2021.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐA – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ Phiên toà: Ông Trần Trung Trực

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Ngô Thị Yêm

2. Bà Hoàng Thị An

- Thư ký phiên toà: Ông Thịnh Quang Trung – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện ĐA.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện ĐA, Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Thúy Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 27/10/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện ĐA, Thành phố Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 187/2021/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 178/2021/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn K, sinh năm 1984 tại Hà Nội; giới tính: nam; nơi cư trú: thôn HB, xã HB, huyện ĐA, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị D; có vợ là chị Nguyễn Thị Q; có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2012; Về nhân thân: theo trích lục tiền án, tiền sự số 510076/PV06 ngày 17/8/2021 và lý lịch bị can thì bị cáo không có tiền án, tiền sự.

Bị cáo bị bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp và tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/6/2021 đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện ĐA, Công an thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 55’ ngày 30/6/2021, tổ công tác Công an xã TX – Công an huyện ĐA làm nhiệm vụ tại khu vực chốt kiểm soát dịch bệnh Covid 19 thuộc thôn Đ, xã TX, huyện ĐA, thành phố Hà Nội phát hiện Nguyễn Văn K đang điều khiển xe máy Yamaha Nouvo, màu đen – xám, BKS: 30X8-4248 đi theo hướng từ thôn Đ1, xã TX lên đê thuộc thôn Đ, xã TX có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra, khám người theo thủ tục hành chính đã phát hiện: tại túi quần phía trước bên phải của K có 01 túi nilon màu trắng, viền màu xanh, kích thước (2x2)cm bên trong chứa tinh thể màu trắng và 02 viên nén hình tròn màu đỏ nghi là ma túy. Ngoài ra, còn thu giữ của K 01 điện thoại OPPO A92, vỏ màu xanh, số Imei1: 867511051343471; Số Imei2: 867511051343463, lắp 02 sim số thuê bao: 0976007669 và 0565663117. Khám phương tiện là chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Nouvo, màu đen, BKS: 30X8-4248 không phát hiện thu giữ gì. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản tạm giữ, niêm phong vật chứng rồi đưa K về trụ sở để tiếp tục đấu tranh làm rõ, đưa số vật chứng đi giám định.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn K tại xóm 1, thôn HB, xã HB, huyện ĐA, thành phố Hà Nội Cơ quan công an không phát hiện thu giữ gì.

Phòng kỹ thuật hình sự (PC 09)- Công an thành phố Hà Nội đã có kết luận số 5438/KLGĐ-PC09 ngày 07/07/2021, như sau: Tinh thể màu trắng có khối lượng 0,273 gam là ma túy loại Methamphetamine; 02 viên nén hình tròn màu đỏ có tổng khối lượng là 0,200g đều là ma túy loại Methamphetamine.

Tổng khối lượng ma túy loại Methamphetamine thu giữ của Nguyễn Văn K là: 0,473 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn K khai nhận: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 11 giờ 30’ ngày 30/6/2021, Nguyễn Văn K sử dụng điện thoại gắn sim số thuê bao 0976007669 của K gọi đến số thuê bao 0968702542 của một người tên là “Đức” (không rõ nhân thân, lai lịch) để hỏi mua 300.000đ ma túy đá và 200.000đ ma túy “ngựa” về sử dụng. Đ đồng ý và hẹn K đến gần trạm y tế xã TX để giao ma túy. Sau đó, K một mình điều khiển xe máy Yamaha Nouvo BKS: 30X8-4248 đến khu vực gần cổng trạm y tế xã TX thì thấy Đ đang đứng đợi ở đây. K đưa tiền cho Đ và Đ đưa cho K 01 túi nilon màu trắng chứa ma túy đá và 02 viên ma túy “ngựa”. Sau khi mua được ma túy, K đi xe máy về nhà. Mục đích Nguyễn Văn K mua ma túy và cất giấu trong người là để sử dụng cho bản thân ngoài ra không còn mục đích nào khác.

Về đối tượng bán ma túy cho Nguyễn Văn K, K khai: Do Hoàng hữu T (sinh năm 1984, nơi cư trú: thôn Đ1, TX, ĐA, Hà Nội) giới thiệu và cho số điện thoại của Đ để K trực tiếp gọi cho Đ mua ma túy. Ngày 30/6/2021 K mua ma túy của Đ là lần đầu tiên. K không biết nhân thân lai lịch của Đ, chỉ biết Đ sử dụng số thuê bao điện thoại 0968702542. Mục đích K mua ma túy để sử dụng, ngoài ra không có mục đích nào khác.

Đối với người tên là Đ bán ma túy cho K, do K không biết nhân thân lai lịch của người này. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra nhưng không làm rõ được.

Đối với Hoàng hữu T, Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra nhưng ngoài lời khai của K không còn tài liệu nào khác về việc Tâm giới thiệu cho K người bán ma túy. Vì vậy Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với Hoàng hữu T.

Đối với 01 xe máy Yamaha Nouvo, màu đen – xám, BKS: 30X8-4248, SK: 069516, SM: 069517 là tài sản chung thuộc sở hữu hợp pháp của hai vợ chồng K và vợ là Nguyễn Thị Q. Ngày 24.9.2021 Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện ĐA đã ra quyết định xử lý vật chứng trao trả chiếc xe máy trên cho chị Q.

Tại bản Cáo trạng số 182/CT-VKSĐA ngày 08/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐA đã Quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại Phiên tòa:

Bị cáo Nguyễn Văn K khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu. Bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện ĐA giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249, điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ Luật Hình sự. Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn K từ 15 tháng đến 18 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo K vì bị cáo là con nghiện, không có nghề nghiệp ổn định.

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong có 0,311 gam Methamphetamine (đã trừ trích mẫu giám định 0,162 gam) và 02 sim điện thoại di động. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A92 màu xanh là tài sản là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về hành vi và tội danh của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 11h55' ngày 30/6/2021 tại khu vực thôn Đ1, xã TX, huyện ĐA, thành phố Hà Nội, bị cáo Nguyễn Văn K đã có hành vi Tàng trữ trái phép 0,473 gam ma túy loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị cơ quan Công an bắt giữ.

Như vậy hành vi của bị cáo Nguyễn Văn K đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, được quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Điều luật quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:..

c) .. Methamphetamine … có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”

Hành vi tàng trữ trái phép ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì chẳng những đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý và chất gây nghiện khác, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội, mà còn làm gia tăng các tệ nạn về ma tuý và các loại tội phạm khác trên địa bàn thành phố Hà Nội nói chung, huyện ĐA nói riêng. Ma túy với một tác hại khôn lường do sức tàn phá của nó đối với người sử dụng và cộng đồng, chính vì vậy mà Nhà nước và cả xã hội ra sức đấu tranh, bài trừ. Bị cáo nhận thức được điều này, song do nghiện ma túy nên vẫn cố tình phạm tội. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt tù nghiêm mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung, nhằm hạn chế các loại tội phạm.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do vậy cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự; căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe giáo dục riêng và phòng ngừa chung thấp hơn mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị là thỏa đáng.

Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra Cơ quan điều đã thu giữ:

- 01 phong bì niêm phong bên trong có 0,311 gam ma túy loại Methamphetamine (đã trừ trích mẫu giám định 0,162 gam) là vật chứng của vụ án nên cần tịch thu tiêu hủy và 02 sim điện thoại di động thu giữ của bị cáo.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A92 màu xanh là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Quá trình điều tra chưa có căn cứ chứng minh vai trò phạm tội của Hoàng hữu T, vì vậy Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Các cơ quan tiến hành tố tụng của huyện ĐA thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thẩm quyền và các quy định khác về điều tra, truy tố và xét xử. Kết luận điều tra của công an ĐA, Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐA và đề nghị hình phạt áp dụng với bị cáo là đúng, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ vào điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015:

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn K 14 (mƣời bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/06/2021.

2. Về xử lý vật chứng, án phí:

- Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án xử:

+ Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A92 màu xanh.

+ Tịch thu tiêu hủy 0,311 gam ma túy loại Methamphetamine (đã trừ trích mẫu giám định 0,162 gam) và 02 sim điện thoại.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 08/10/2021 giữa Công an huyện ĐA, Thành phố Hà Nội và Chi cục thi hành án dân sự huyện ĐA, Thành phố Hà Nội).

Bị cáo Nguyễn Văn K phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ