- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Phạm Thị T - Anh Vi Văn H"
- Tòa quyết gì? 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
- Căn cứ chính? Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁ THƯỚC TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 183/2021/HNGĐ-ST Ngày 30 -9 - 2021 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁ THƯỚC TỈNH THANH HÓA
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Quyên Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lò Văn Trực 2. Bà Trương Thị Quý
- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Nhung - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Bá Thước. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bá Thước tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Nguyệt – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2021, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 69/2021/TLST- HNGĐ ngày 30 tháng 3 năm 2021 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2021/QĐXX-HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 41 ngày 15 tháng 9 năm 2021 giữa: Nguyên đơn: Chị Phạm Thị T; Sinh năm 1998 (vắng mặt) Nơi cư trú: Thôn H Q, xã Đ Q, huyện B T, tỉnh Thanh Hóa. Bị đơn: Anh Vi Văn H; Sinh năm 1996 (vắng mặt) Nơi cư trú: Thôn C M, xã V N, huyện B T, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình làm việc tại Tòa án chị T trình bày: Chị T và anh H tự do tìm hiểu khoảng 01 năm thì lấy nhau. Anh chị có tổ chức cưới theo phong tục tập quán vào ngày 20 tháng 01 năm 2017, đến ngày 20 tháng 01 năm 2017 tự nguyện đi đăng ký kết hôn tại UBND xã V N, huyện B T. Sau khi lấy nhau sống chung được một thời gian ngắn thì mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng luôn bất hòa, cãi nhau thường xuyên. Chị T về nhà ngoại do anh H thường xuyên rượu chè, đánh đập chị T. Anh chị ly thân từ 02/9/2018 đến nay. Sau khi ly thân không ai quan tâm đến ai, nay chị T không còn tình cảm với anh H và thiết tha xin ly hôn.
Về con chung: Chị T và anh H có 01 con chung là cháu Phạm Vi Tuất K, sinh ngày 20/3/2017 lâu nay chị T đang trực tiếp nuôi con. Khi ly hôn chị T có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng con chung không yêu cầu cấp dưỡng. Về tài sản: Không yêu cầu giải quyết. Về nợ chung: Không có. Bị đơn anh H đã được tống đạt hợp lệ nhưng không đến làm việc theo thông báo của Tòa án. Anh H đã gọi điện trình bày quan điểm muốn ly hôn nhưng đang đi làm không về được và cung cấp địa chỉ. Tòa án đã gửi các thông báo và quyết định tố tụng qua đường bưu điện cho anh Vi Văn H. Nhưng bưu điện hoàn văn kiện lý do không giao được vì anh H không nghe máy và địa chỉ anh H cung cấp không có thực.
Quá xác minh tại địa phương (UBND xã V N, huyện B T) anh H là lao động tự do nên không có địa chỉ cố định. Việc anh H cung cấp sai địa chỉ là cố tình trốn tránh gây khó khăn cho chị T trong việc giải quyết ly hôn. Hiện nay chị T đang trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Phạm Vi Tuất K, sinh ngày 20/3/2017. Sau khi nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử chị T có đơn xin xử vắng mặt. Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Về tố tụng: Tòa án thụ lý đúng thẩm quyền và trình tự tố tụng thẩm phán, thư ký, HĐXX thực hiện đúng đủ theo quy định của BLTTDS.
Về nội dung giải quyết vụ án. Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình. Xử cho chị T ly hôn anh H. Giao cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Phạm Vi Tuất K, sinh ngày 20/3/2017 cho đến khi thành niên. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về tố tụng: Đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 BLTTDS và thuộc thẩm quyền giải quyết theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS. Thẩm phán, thư ký và HĐXX đã thực hiện đúng và đầy đủ theo quy định, trình tự của BLTTDS.
Việc xét xử vụ án theo thủ tục xét xử vắng mặt tất cả đương sự là đúng theo quy định tại Điều 227 và điểm a, điểm b, khoản 1, Điều 238 của BLTTDS.
Về nội dung: Chị Phạm Thị T và anh Vi Văn H tự do tìm hiểu, tự nguyện lấy nhau, có đăng ký kết hôn nên hôn nhân của anh chị hợp pháp.
Tình trạng hôn nhân: Mâu thuẫn giữa chị T và anh H đã đến mức trầm trọng. Cuộc sống chung không còn tồn tại, mỗi người một nơi không chung mục đích. Nay chị T xác định không còn tình cảm vợ chồng, chị đã ly thân từ 02/9/2018 đến nay. HĐXX căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị T ly hôn anh H.
Về con chung. Căn cứ các Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật hôn nhân gia đình. Giao cháu Phạm Vi Tuất K, sinh ngày 20/3/2017 cho chị Phạm Thị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến tuổi thành niên. Anh Vi Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Vi Văn H có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
Về án phí: Tại thời điểm thụ lý vụ án thôn H Q, xã Đ Q, huyện B T nơi chị T cư trú thuộc vùng đặc biệt khó khăn theo quy định của Chính Phủ và chị T có đơn xin miễn toàn bộ tiền tạm ứng án phí. Tòa án đã có thông báo chấp nhận miễn nộp tạm ứng án phí cho chị T. Từ ngày 04/6/2021 thôn H Q, xã Đ Q, huyện B T không thuộc xã đặc biệt khó khăn theo quy định quy định của Chính Phủ. Chị Phạm Thị T chịu án phí theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị định số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều
82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
- Căn cứ: Khoản 2 Điều 227; Điểm a, điểm b khoản 1 Điều 238; Khoản 4 Điều 147 và Điều 271 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
2. Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Phạm Thị T. Xử cho chị Phạm Thị T, ly hôn anh Vi Văn H.
3. Về con chung: Giao cháu Phạm Vi Tuất K, sinh ngày 20/3/2017 cho chị Phạm Thị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến tuổi thành niên. Anh Vi Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Vi Văn H có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.
- Tài sản: Không có, không yêu cầu giải quyết. -Về nợ chung: Không có
4. Về án phí: Chị Phạm Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).
Án sơ thẩm vắng mặt chị Phạm Thị T và anh Vi Văn H. Chị T và anh H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt án hợp lệ.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; THA dân sự huyện B T … - Cơ quan thực hiện đăng ký kết hôn; - Lưu hồ sơ vụ án. | T M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬSƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Quyên |