vanban.org

Bản án 183/2020/HSST — Hình sự

TAND Q. Ba Đình, TP. Hà Nội Tuyên án 30/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Phạm Ngọc N 12 (mƣời hai) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bắt thi hành án.

Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Trả lại cho bị cáo 01 (một) xe mô tô màu đỏ đen nhãn hiệu Yamaha Exciter BKS: 26 K1- 095.30 số máy: G3D4E144500, số khung: 0610FY131893; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 009707 BKS: 26 K1- 095.30; 01 (một) …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "truy tố Phạm Ngọc N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo qui định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Phạm Ngọc N 12 (mƣời hai) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bắt thi hành án.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BA ĐÌNH
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 183/2020/HSST
Ngày 30 tháng 9 năm 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Long

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Chương Dương

2. Bà Đỗ Thị Hằng Huệ

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy Linh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa:

Ông Trần Quang Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 158/2020/TL - HSST ngày 21 tháng 8 năm 2020 theo quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 301/2020/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 8 năm 2020; Quyết định hoãn phiên tòa số 163/2020/QĐST-HPT ngày 14 tháng 9 năm 2020 đối với:

* Bị cáo Phạm Ngọc N, sinh năm 1996; Đăng ký hộ khẩu và cƣ trú: Số 111 đƣờng B, xóm 1 tiểu khu 14, thị trấn H, huyện M, tỉnh S; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Họ và tên bố: Phạm Bá S (sinh năm: 1958); Họ và tên mẹ: Đỗ Thị N (sinh năm: 1966). Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình. Chƣa có vợ con. Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo đƣợc áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cƣ trú từ ngày 25/5/2020. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Ngƣời bị hại: Bà Nguyễn Thị Minh H, sinh năm 1958. Địa chỉ: Số 20 ngõ 123A Thụy Khuê, phƣờng Thụy Khuê, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội. Bà H có mặt tại phiên tòa.

* Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty bảo hiểm BIDV Tây Bắc. Ngƣời đại diện theo pháp luật: bà Nguyễn Thanh H – chức vụ: Giám đốc. Bà Hằng có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng 16 giờ 00 phút, ngày 23 tháng 8 năm 2019, bà Nguyễn Thị Minh H, sinh năm: 1958, địa chỉ: Số 20 ngõ 123A Thụy Khuê, phƣờng Thụy Khuê, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội điều khiển xe mô tô BKS: 29F1-098.25 đi một mình trên đƣờng cầu vƣợt Vành đai 2 (đƣờng Bƣởi trên cao) hƣớng lƣu thông đƣờng Láng - Lạc Long Quân. Do trời mƣa giông to, bà H điều khiển xe dừng đỗ ở sát mép đƣờng cầu và đứng xuống đƣờng cạnh bên trái xe (theo hƣớng di chuyển). Cùng lúc này, Phạm Ngọc N điều khiển xe mô tô BKS: 26K1-095.30 đi cùng chiều tới, do thiếu chú ý quan sát anh Nam đã đâm xe mô tô trúng ngƣời bà H, làm bà H ngã ra đƣờng xảy ra tai nạn.

Bản kết luận giám định pháp y thƣơng tích số 1078/TTPY ngày 04 tháng 12 năm 2019 của Trung tâm Pháp Y Hà Nội kết luận thƣơng tích: “Các sẹo vết thương, vết mổ: 07%; Vỡ thành xoang hàm phải: 11%; Xẹp D5, D10 đã phẫu thuật bơm xi măng: 30%; Thoát vị đĩa đệm C4/5 đã phẫu thuật thay đĩa đệm nhân tạo: 21%; Thoát vị đĩa đệm C3/4 đã phẫu thuật lấy đĩa đệm, ghép xương và cố định cột sống: 11%; Gãy 2 xương cẳng chân phải đã phẫu thuật kết xương: 16%. Tỷ lệ tổn hại sức khỏe: 66% (Sáu mươi sáu phần trăm). Tính theo phương pháp cộng lùi”.

* Biên bản khám nghiệm hiện trường (hiện trường dựng lại ngày 21/11/2019):

- Xe môtô 29F1-09825 dựng sát mép đƣờng bên phải đƣờng vành đai 2 (chiều Cầu Giấy đi Đội Cấn) đầu xe hƣớng Đội Cấn, đuôi xe hƣớng ngƣợc lại. Đo từ tâm hình chiếu đầu trục bánh trƣớc xe môtô đến mép đƣờng làm chuẩn đƣợc 0m10; Đo từ tâm hình chiếu đầu trục bánh sau xe môtô đến mép đƣờng làm chuẩn đƣợc 0m65;

- Xe môtô 26K1-095.30 đỗ phía trƣớc xe mô tô 29F1-098.25 sát mép hè đƣờng làm chuẩn. Đầu xe hƣớng Đội Cấn đuôi xe hƣớng Cầu Giấy. Đo từ tâm hình chiếu đầu trục bánh trƣớc xe môtô đến mép đƣờng làm chuẩn đƣợc 0m10; Đo từ tâm hình chiếu đầu trục bánh sau xe môtô đến mép đƣờng làm chuẩn đƣợc 0m30;

- Vị trí nằm nạn nhân: Nạn nhân là nữ sinh năm 1958. Sau khi xẩy ra va chạm nạn nhân bị ngã ra đƣờng, nằm phía trƣớc đầu xe 29F1-098.25 đầu nạn nhân hƣớng Đội Cấn, chân hƣớng ngƣợc lại. Đo từ đầu nạn nhân đến mép đƣờng làm chuẩn đƣợc 0m70; Đo từ chân trái nạn nhân đến mép đƣờng làm chuần đƣợc 0m65; Đo từ tâm hình chiếu đầu trục bánh sau xe môtô 26K1-09530 đến đầu nạn nhân đƣợc 4m60; Đo từ chân nạn nhân đến tâm chiếu đầu trục bánh xe trƣớc moto 29F1-098.25 đƣợc 0m40. Đo từ tâm hình chiếu đầu trục bánh xe sau xe moto 29F1-098.25 đến tâm cột đèn OT1/37 đƣợc 41m80.

Ngày 12 tháng 9 năm 2019 chị Trần Phƣơng Thảo con gái bà H đã có đơn tố cáo gửi Công an quận Ba Đình, chị Thảo trình bày phù hợp với nội dung trên. Ngày 21/02/2020 chị Thảo giao nộp 01 văn bản “xác nhận nội dung vụ tai nạn giao thông xảy ra ngày 23/08/2019” do Phạm Ngọc N viết tay và ký xác nhận, trong văn bản nêu rõ chính Phạm Ngọc N là ngƣời gây tai nạn cho bà Nguyễn Thị Minh H. Cơ quan điều tra đã thu giữ của Phạm Ngọc N 01 xe mô tô màu đỏ đen Yamaha biển số 26K1 – 09530; 01 giấy phép lái xe mang tên Phạm Ngọc N; 01 đăng ký & 01 bảo hiểm xe mô tô biển số 26K1 – 09530.

- Kết luận giám định số 2972/KLGĐ-PC09-Đ4 ngày 23 tháng 4 năm 2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội kết luận:“chữ ký, chữ viết đứng tên Phạm Ngọc N trên mẫu cần giám định (ký hiệu A) với chữ ký, chữ viết đứng tên Phạm Ngọc N trên mẫu so sánh (ký hiệu M1, M2) là do một người viết và ký ra”.

Tại cơ quan điều tra Phạm Ngọc N khai nhận phù hợp nội dung trên do bà H đứng dậy bất ngờ nên tay ga xe của Nam va vào bà H, để chân xe mô tô của Nam va vào chân phải bà H, sau tai nạn Nam đã đƣa bà H đi cấp cứu. Lời khai nhận tội của Nam phù hợp với lời khai bị hại, nhân chứng, hiện trƣờng, kết luận giám định, kết luận pháp y thƣơng tích và các tài liệu khác có trong hồ sơ.

Về dân sự Phạm Ngọc N và ngƣời bị hại Nguyễn Thị Minh H chƣa thỏa thuận đƣợc việc giải quyết dân sự.

Tại bản cáo trạng số: 159/CT-VKS ngày 18 tháng 8 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình đã truy tố Phạm Ngọc N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ” theo qui định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nhƣ cáo trạng đã truy tố. Về trách nhiệm dân sự ngoài 3.000.000 đồng đã gửi bà H bị cáo chƣa bồi thƣờng thêm cho ngƣời bị hại.

Tại phiên tòa ngƣời bị hại có ý kiến: Sau khi xảy ra tai nạn, bị cáo có đƣa bà vào cấp cứu tại bệnh viện và bồi thƣờng cho bà 3.000.000 đồng. Sau đó bị cáo không đến thăm hỏi cũng nhƣ bồi thƣờng cho bà liên quan đến các chi phí để bà chữa bênh nữa. Bà yêu cầu bị cáo bồi thƣờng cho bà số tiền 286.815.000 đồng bao gồm: Tiền viện phí, tiền thuốc:196.806.000 đồng; Chi phí xe chuyển viện, xe taxi: 3.980.000 đồng; Các phí khác: Thức ăn, sữa, hoa quả bồi dƣỡng, gội đầu, gửi xe ra vào bệnh viện, bỉm, tấm lót, giấy ƣớt, giấy khô, dung dịch tắm, thuê ngƣời trông tại viện và tại nhà 10 ngày đầu mới ra viện, thuê ngƣời đến tập vật lý trị liệu: 86.030.000 đồng.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 23/08/2019, tại đƣờng cầu vƣợt Vành đai 2 (đƣờng Bƣởi trên cao), phƣờng Ngọc Khánh, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, bà Nguyễn Thị Minh H dừng đỗ xe trên cầu, (vi phạm điểm c, khoản 4, Điều 18 Luật giao thông đƣờng bộ), Phạm Ngọc N điều khiển xe mô tô không chú ý quan sát và có hành vi vi phạm các quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ, gây tai nạn cho bà Nguyễn Thị Minh H với tỷ lệ tổn hại sức khỏe cho bị hại 66%. Phạm Ngọc N khai nhận tội phù hợp với lời khai bị hại, nhân chứng, hiện trƣờng, kết luận giám định, kết luận pháp y thƣơng tích và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 260; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 32, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 12 đến 18 tháng tù.

Về phần dân sự: Áp dụng Điều 585, Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015: Xét thấy sự việc xảy ra có một phần lỗi của bà H dừng đỗ xe trên cầu, (vi phạm điểm c, khoản 4, Điều 18 Luật giao thông đƣờng bộ). Vì vậy xác định bị cáo chịu và bà H chịu 20% lỗi. Vì vậy bà H sẽ đƣợc bồi thƣờng 80% đối với số tiền 286.815.000 đồng bà yêu cầu bị cáo bồi thƣờng.

Xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo 01 xe mô tô màu đỏ đen nhãn hiệu Yamaha Exciter BKS: 26 K1- 095.30; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 009707 BKS: 26 K1- 095.30; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS số 0289395 của xe mô tô BKS: 26K1-095.30 mang tên Phạm Ngọc N; 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 cấp ngày 19/9/2014 mang tên Phạm Ngọc N.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự đối với phần phải bồi thƣờng cho ngƣời bị hại. Ngƣời bị hại phải chịu án phí dân sự đối với phần yêu cầu bồi thƣờng không đƣợc chấp nhận.

Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội, bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và không có tranh luận bào chữa gì về mức án và phần bồi thƣờng. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin đƣợc hƣởng án treo để có thời gian lao động kiếm tiền bồi thƣờng cho ngƣời bị hại.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã đƣợc thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, ngƣời bị hại ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận Ba Đình, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo, ngƣời bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã đƣợc Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng và có đơn xin xét xử vắng mặt.

[2] Về căn cứ buộc tội: Khoảng 16 giờ 00 phút, ngày 23 tháng 8 năm 2019, tại đƣờng cầu vƣợt Vành đai 2 (đƣờng Bƣởi trên cao), phƣờng Ngọc Khánh, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, bà Nguyễn Thị Minh H dừng đỗ xe trên cầu, (vi phạm điểm c, khoản 4, Điều 18 Luật giao thông đƣờng bộ), Phạm Ngọc N điều khiển xe mô tô không chú ý quan sát đã đâm xe mô tô trúng ngƣời bà H làm bà H ngã ra đƣờng gây tai nạn cho bà Nguyễn Thị Minh H với tỷ lệ tổn hại sức khỏe cho bị hại 66%. Phạm Ngọc N khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai bị hại, nhân chứng, hiện trƣờng, kết luận giám định, kết luận pháp y thƣơng tích và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 23 Điều 8 Luật Giao thông đƣờng bộ. Đủ yếu tố cấu thành tội „Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ‟‟. Tội phạm và hình phạt đƣợc quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm quy định của nhà nƣớc về an toàn giao thông đƣờng bộ, sự hoạt động bình thƣờng của các phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ, gây thiệt hại sức khỏe của ngƣời khác. Bị cáo điều khiển xe mô tô khi có giấy phép lái xe lƣu thông trên đƣờng do bị cáo thiếu chú ý quan sát đã đâm xe mô tô trúng ngƣời bà H làm bà H ngã ra đƣờng xảy ra tai nạn, hậu quả bà H bị thƣơng tật 66%. Đây là lỗi hỗn hợp của bị cáo và ngƣời bị hại, ngƣời bị hại có một phần lỗi do dừng đỗ trên cầu (vi phạm điểm c, khoản 4, Điều 18 Luật giao thông đƣờng bộ), một phần lỗi thuộc về bị cáo là lỗi vô ý do thiếu chú ý quan sát, để lại hậu quả lớn khiến ngƣời bị hại bị thƣơng tật 66%.

[3] Xét tính chất vụ án: Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe công dân, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đƣờng bộ, gây mất trật tự trị an, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân và gây tổn thất tinh thần cho gia đình nạn nhân. Trong xã hội hiện nay, tình trạng vi phạm quy định an toàn giao thông đang ngày một gia tăng, trở thành vấn nạn của xã hội. Để góp phần làm giảm tai nạn giao thông cần xử lý kịp thời cũng nhƣ đƣa ra xét xử thật nghiêm những hành vi vi phạm giao thông. Vì vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc tƣơng xứng với hành vi mà bị cáo đã gây ra để răn đe và phòng ngừa.

[4] Xét nhân thân của bị cáo: Hội đồng xét xử có xem xét đến nhân thân bị cáo chƣa có tiền án tiền sự, tại cơ quan điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, khi phát hiện bản thân gây tai nạn bị cáo đã đƣa ngƣời bị hại đi cấp cứu. Nên bị cáo đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về trách nhiệm dân sự trong vụ án: Xét yêu cầu ngƣời bị hại, căn cứ các tài liệu do bà H cung cấp cho thấy bà H phải điều trị tại Bệnh viện 354 và Bệnh viện Việt Đức; Viện châm cứu Trung Ƣơng từ ngày 23/8/2019 đến ngày 15/11/2019 nên căn cứ Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015 các khoản chi phí hợp lý do sức khỏe bị xâm phạm gồm tiền viện phí, tiền thuốc, chi phí ngƣời phục vụ, chi phí cho việc hồi phục sức khỏe, thu nhập thực tế bị mất và tiền bù đắp về tổn thất tinh thần. Bà H chỉ cung cấp đƣợc hóa đơn viện phí và tiền thuốc, bà H yêu cầu bị cáo bồi thƣờng 286.816.000 đồng cụ thể: Tiền viện phí, tiền thuốc: 196.806.000 đồng; Chi phí xe chuyển viện, xe taxi (tuy không có hóa đơn nhƣng đây là chi phí thực tế hợp lý nên đƣợc chấp nhận): 3.980.000 đồng. Các chi phí khác: Thức ăn, sữa, hoa quả bồi dƣỡng, gội đầu, gửi xe ra vào viện, bỉm, tấm lót, giấy ƣớt, giấy khô, dung dịch tắm, thuê ngƣời trông tại viện và tại nhà 10 ngày đầu mới ra viện, thuê ngƣời đến tập vật lý trị liệu (tuy không có hóa đơn nhƣng đây là chi phí thực tế hợp lý nên đƣợc chấp nhận): 86.030.000 đồng.

Hội đồng xét xử nhận thấy ngƣời bị hại có một phần lỗi. Vì vậy xác định lỗi của bị cáo là 80% và ngƣời bị hại là 20%. Căn cứ Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015, chấp nhận một phần yêu cầu bồi thƣờng của ngƣời bị hại cụ thể là: 286.816.000 đồng x 80% = 229.452.800 đồng.

Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo đã bồi thƣờng cho ngƣời bị hại số tiền 3.000.000 đồng.

[6] Xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo 01 xe mô tô màu đỏ đen nhãn hiệu Yamaha Exciter BKS: 26 K1- 095.30; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 009707 BKS: 26 K1- 095.30; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS số 0289395 của xe mô tô BKS: 26K1-095.30 mang tên Phạm Ngọc N; 01 giấy phép lái xe hạng A1 cấp ngày 19/9/2014 mang tên Phạm Ngọc N.

[7] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về Điều luật áp dụng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và về trách nhiệm dân sự phù hợp các quy định của pháp luật nên đƣợc chấp nhận.

[8] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm, Ngƣời bị hại bà Nguyễn Thị Minh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với một phần yêu cầu bồi thƣờng thiệt hại không đƣợc chấp nhận, nhƣng do bà H là ngƣời cao tuổi nên đƣợc miễn án phí;

Bị cáo, ngƣời bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các căn cứ, nhận định của Hội đồng xét xử;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Ngọc N 12 (mƣời hai) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bắt thi hành án.

Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Trả lại cho bị cáo 01 (một) xe mô tô màu đỏ đen nhãn hiệu Yamaha Exciter BKS: 26 K1- 095.30 số máy: G3D4E144500, số khung: 0610FY131893; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 009707 BKS: 26 K1- 095.30; 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS số 0289395 của xe mô tô BKS: 26K1-095.30 mang tên Phạm Ngọc N; 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 cấp ngày 19/9/2014 mang tên Phạm Ngọc N theo Biên bản giao nhận vật chứng số 194/CABĐ (ĐTTH) ngày 11/9/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội nhƣng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Về phần dân sự: Áp dụng Điều 585, Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015;

Chấp nhận một phần yêu cầu bồi thƣờng thiệt hại của ngƣời bị hại bà Nguyễn Thị Minh H.

Buộc bị cáo Phạm Ngọc N phải bồi thƣờng cho ngƣời bị hại số tiền 229.452.800 (Hai trăm hai chín triệu, bốn trăm lăm hai nghìn, tám trăm) đồng.

- Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Điều 12, Điều 23, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 11.472.640 (Mười một triệu, bốn trăm bảy hai nghìn, sáu trăm bốn mươi) đồng án phí dân sự;

Ngƣời bị hại bà Nguyễn Thị Minh H đƣợc miễn án phí dân sự sơ thẩm.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và ngƣời đƣợc thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 cho đến khi thi hành xong bản án.

Trƣờng hợp bản án đƣợc thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 bị cáo, ngƣời bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày 30 tháng 9 năm 2020. Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc ngày bản án đƣợc niêm yết hợp lệ./.

Cỡ chữ