- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn H bị Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng đã truy tố về tội Ttàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luậ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƢNG - TP. HÀ NỘI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 183/2019/HS-ST Ngày 26-9-2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƢNG -THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thủy
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Bích Hợp
Bà Lê Thị Tân
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lài - Thư ký Toà án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2019, tại Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 186/2019/TLST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 189/2019/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2019 đối với:
Bị cáo Phạm Văn H; sinh năm 1987 tại Thanh Hoá; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn A, xã G, huyện L, tỉnh Thanh Hoá; nơi cư trú: không cố định; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 2/12; dân tộc: Mường; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn H1 và con bà Phạm Thị T; gia đình có bốn anh em, bị cáo là con thứ ba; có vợ là Vi Thị X; có 02 con: lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2012; tiền án: không; tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 25/5/2019; tạm giữ ngày 26/5/2019; tạm giam ngày 04/6/2019. Danh chỉ bản số 285 lập ngày 14/6/2019 tại Công an quận Hai Bà Trưng. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Hà Nội; có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do nghiện ma túy nên khoảng 9 giờ ngày 25/5/2019, Phạm Văn H đi xe buýt từ Bắc Ninh sang khu vực vườn hoa E, phường P, quận H, Hà Nội tìm mua ma tuý để sử dụng. Tại đây, H gặp và mua của một nam thanh niên (không rõ nhân thân lai lịch) 01 gói hêrôin với giá 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng). Sau đó, H cất gói ma tuý vừa mua vào túi quần phía trước bên trái đang mặc rồi đi tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, khi H đang đi trong khu vực vườn hoa E thì bị Tổ công tác Công an phường P kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra, Tổ công tác đã phát hiện và thu giữ tại túi quần phía trước bên trái của H 01 gói giấy bạc màu trắng, kích thước khoảng 1x1cm, bên trong chứa các cục chất bột màu trắng, tại chỗ H khai nhận là ma túy loại hêrôin vừa mua để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản, niêm phong tang vật và yêu cầu H về trụ sở cơ quan công an làm việc. Ngoài ra, cơ quan công an còn thu giữ của H số tiền 30.000 đồng (ba mươi nghìn đồng).
Ngày 25/5/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Hai Bà Trưng ra Quyết định trưng cầu giám định số ma túy đã thu giữ của H. Tại bản kết luận giám định số 3287/KLGĐ-PC09 ngày 31/5/2019, Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: “Các cục chất bột bên trong gói giấy bạc màu trắng là ma túy loại heroin, khối lượng 0,115gam”
Đối với nam thanh niên đã bán ma tuý cho H: H khai không biết rõ nhân thân lai lịch. Ngày 25/4/2019, Cơ quan công an đã dẫn giải Huê để xác định nơi H mua ma túy và người đã bán ma túy cho H. Kết quả H xác định được vị trí mua ma túy là tại vườn hoa E, phường P, quận H, Hà Nội nhưng không xác định được nam thanh niên đã bán ma túy cho H. Vì vậy, cơ quan công an không có căn cứ xác minh xử lý.
Về số tiền 30.000 đồng (Ba mươi nghìn đồng) thu giữ của H: H khai do do lao động mà có.
Tại bản Cáo trạng số 184/CT-VKSHBT-HS ngày 05/9/2019, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng đã truy tố Phạm Văn H về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn H giữ nguyên lời khai như tại cơ quan điều tra, thừa nhận nội dung, tội danh mà Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng và xin giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình, xã hội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố Phạm Văn H và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Văn H với mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; về xử lý vật chứng: tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma tuý đã thu giữ của bị cáo; trả lại bị cáo số tiền 30.000 đồng (ba mươi nghìn đồng).
Bị cáo nói lời sau cùng đã nhận thức ra lỗi lầm, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, không áp dụng hình phạt tiền vì bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập, hoàn cảnh gia đình khó khăn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Công an quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn H không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét lời khai của bị cáo Phạm Văn H tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 11 giờ ngày 25/5/2019, tại khu vực vườn hoa E, phường P, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, Phạm Văn H có hành vi tàng trữ trái phép 0,115 gam ma tuý loại hêrôin.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền kiểm soát và quản lý các chất ma tuý của nhà nước, gây mất trật tự trị an, gây bất bình và tâm lý lo lắng trong nhân dân. Ma túy đang là mối hiểm họa cho mỗi gia đình và toàn bộ xã hội, Nhà nước đã có nhiều chính sách cương quyết tuyên truyền vận động đến chế tài xử lý nghiêm khắc mọi hành vi liên quan đến ma tuý. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy trước được tác hại của hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý nhưng vẫn cố ý thực hiện. Tại phiên toà bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình theo bản Cáo trạng và lời luận tội của Viện kiểm sát, do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận Phạm Văn H phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng truy tố và kết luận về hành vi phạm tội của bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Nên cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và làm bài học, răn đe người khác.
Xét nhân thân: bị cáo Phạm Văn H không có tiền án, tiền sự, đây là lần đầu bị truy tố, xét xử. Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên toà thấy bị cáo không có nghề nghiệp, hoàn cảnh khó khăn nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho H: do H khai không biết rõ tên tuổi địa chỉ cụ thể, cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không xác định được. Do vậy, cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh xử lý là có cơ sở.
Về xử lý vật chứng:
- Cơ quan điều tra đã thu giữ 0,115 gam ma tuý loại hêrôin - đây là chất độc hại, Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ.
- Đối với số tiền 30.000 đồng (ba mươi nghìn đồng) đã thu giữ của bị cáo: bị cáo khai do lao động mà có, xác định không liên quan đến hành vi phạm tội, nên trả lại cho bị cáo.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự,
Xử phạt: Phạm Văn H 14 (mười bốn) tháng tù.Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt là ngày 25/5/2019.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Phạm Văn H.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu, tiêu huỷ 01 (một) bì giấy đã niêm phong bên trong có chứa 0,115 gam ma tuý loại hêrôin, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và bị cáo Phạm Văn H.
Vật chứng trên hiện đang bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội theo Biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày 06/9/2019 giữa Công an quận Hai Bà Trưng với Chi cục thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng.
- Trả lại bị cáo Phạm Văn H số tiền 30.000 đồng (ba mươi nghìn đồng) theo Giấy nộp tiền ngày 16/8/2019 do Công an quận Hai Bà Trưng nộp vào tài khoản số 3949 0 1049415 của Chi cục thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng tại Kho bạc Nhà nước quận Hai Bà Trưng.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo Phạm Văn H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo Phạm Văn H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; -VKSND quận Hai Bà Trưng; -VKSND TP Hà Nội; - Toà án NDTP Hà Nội; - Công an quận Hai Bà Trưng; - Trại tạm giam số 1 - Công an TP Hà Nội; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Phƣơng Thủy |