vanban.org

Bản án 183/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LY HÔN"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 183/2018/HNGĐ-ST

Ngày: 27/09/2018

HUYỆN CHỢ MỚI Độc lập - Tự do - Hạnh phúc V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Lâm Bảo Ngọc. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Xuyên. 2. Bà Nguyễn Thị Hồng Huệ. - Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Diễm Thúy – là thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang: không tham gia. Trong ngày 27 tháng 9 năm 2018 tại tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 356/2018/TLST- HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2018 về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 174/2018/QĐXX-ST ngày 10 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị X, sinh năm 1975 (có đơn xin vắng mặt). Địa chỉ: ấp An Quới, xã Hòa Bình, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. 2. Bị đơn: anh Nguyễn Hải A, sinh năm 1979 (vắng mặt). Địa chỉ: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, tờ tự khai và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị X trình bày: chị và anh A chung sống với nhau vào năm 2011 có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn. Hôn nhân do tự tìm hiểu và được hai bên gia đình chấp nhận, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2014 thì phát sinh mA thuẫn, nguyên nhân là do anh A không lo làm ăn, hay uống rượu. Vợ chồng không còn chung sống với nhau từ năm 2017 đến nay. Nhận thấy tình cảm không còn nay chị yêu cầu ly hôn với anh A. - Về quan hệ con chung: vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Thanh P, sinh ngày 13.3.2010, hiện con chung đang sống với chị X. Sau khi ly hôn chị X

yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu anh A cấp dưỡng nuôi con chung. - Về quan hệ tài sản chung: không có. - Về quan hệ nợ chung: không có. Bị đơn anh Nguyễn Hải A đã được tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Nguyễn Hải A không gửi văn bản, cũng như không tham gia các phiên hòa giải nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh Nguyễn Hải A về yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị X.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận định: [1] Chị Nguyễn Thị X có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, anh Nguyễn Hải A đã được tống đạt các Quyết định đưa vụ án ra xét xử và hoãn phiên tòa nhưng anh Nguyễn Hải A vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ vào Điều 227, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị Nguyễn Thị X, anh Nguyễn Hải A là có căn cứ. [2] Chị Nguyễn Thị X yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Hải A. Anh Nguyễn Hải A có nơi cư trú tại ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang. Nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại các Điều 28, 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. [3] Chị Nguyễn Thị X và anh Nguyễn Hải A xác lập quan hệ vợ chồng và chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới, đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của anh, chị được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống mA thuẫn kéo dài do vấn đề vợ chồng không còn tình cảm, anh A thường xuyên uống rượu, không lo làm ăn, đời sống chung không thể kéo dài, anh A không có thiện chí hàn gắn mối quan hệ này. Trong quá trình giải quyết vụ án anh Nguyễn Hải A không gửi cho Tòa án ý kiến cũng như không tham gia các phiên hòa giải, nên Tòa án đã lập biên bản tiến hành hòa giải không được. Hội đồng xét xử xét thấy mối quan hệ vợ chồng giữa chị X và anh A không thể tiếp tục được, mA thuẫn phát sinh nhưng cả hai không muốn hàn gắn, cuộc sống chung không tồn tại. Vì vậy, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị X ly hôn với anh Nguyễn Hải A là phù hợp được quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình. [4] Về quan hệ con chung: vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Thanh P, sinh ngày 13.3.2010, hiện con chung đang sống với chị X. Sau khi ly hôn chị X yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu anh A cấp dưỡng nuôi con chung. Xét về yêu cầu nuôi con chung của chị X thì thấy: từ khi chị X và anh A không còn sống chung cho đến nay chị X vẫn chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung luôn đảm bảo về thể chất và tâm sinh lý phát triển tốt. Chị X có đủ điều kiện về kinh tế để đảm bảo cuộc sống cho con chung, hơn nữa trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án ghi nhận ý kiến của cháu Phong, có nguyện vọng

muốn sống với mẹ (X) khi cha mẹ ly hôn, xét thấy đây là nguyện vọng và ý chí của cháu Phong, nghĩ nên chấp nhận và anh A không có ý kiến nào phản đối việc chị X yêu cầu được nuôi con chung sau khi ly hôn, nên việc giao con chung cho chị X được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định pháp luật. Xét yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, do chị X không yêu cầu. Nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Anh A không trực tiếp nuôi dưỡng con chung nhưng anh có quyền tới lui trông nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được ngăn cản anh A thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án xem xét và quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con. [5] Về quan hệ tài sản chung: chị X trình bày không có. [6] Về quan hệ nợ chung: ghi nhận chị X trình bày không có nợ chung. Nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của chị X và anh A trong thời kỳ hôn nhân thì chị X và anh A vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác. [7] Về án phí: các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Điều 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014. - Các Điều 28, 35, 146, 147, 227, Điều 238 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. - Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên Xử: - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị X. - Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị X được ly hôn với anh Nguyễn Hải A. - Về quan hệ con chung: chị Nguyễn Thị X được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung tên Nguyễn Thanh P, sinh ngày 13.3.2010 cho đến tuổi thành niên và lao động được. Anh A không phải cấp dưỡng nuôi con chung. - Về quan hệ tài sản chung: chị X trình bày không có. - Về quan hệ nợ chung: ghi nhận chị X trình bày không có nợ chung. Nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của chị X và anh A trong thời kỳ hôn nhân

thì chị X, anh A vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác. - Về án phí: chị X phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0019644 ngày 16.5.2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Chị X đã nộp xong. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ./. TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ