vanban.org

Bản án 183/2017/HSST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 02/08/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trƣơng Văn T phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trƣơng Văn T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/4/2017. Về vật chứng: Áp dụng Điểm a, b, c khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Văn T bị xét xử về tội vận chuyển trái phép chất ma tuy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ l…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trƣơng Văn T phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 183/2017/HSST
Ngày 02-8-2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN TỈNH BÌNH DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Quân Vƣơng.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Hoàn

2. Bà Bùi Thị Kim Oanh

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thƣơng, Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Chiến, Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 8 năm 2017 tại Hội trƣờng A, trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 199/2017/HSST ngày 11 tháng 7 năm 2017, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 196/2017/HSST-QĐ ngày 24 tháng 7 năm 2017 đối với bị cáo:

Trƣơng Văn T (có tên gọi khác là U), sinh năm 1974 tại tỉnh Bình Dƣơng; nơi cƣ trú: khu phố Đ, phƣờng V, thị xã TA, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Thợ hồ; trình độ học vấn: Không đi học; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; cha không rõ, mẹ tên Trƣơng Thị H, sinh năm 1940; bị cáo có 03 anh chị ruột, không rõ năm sinh; có vợ tên Nguyễn Thị H, sinh năm 1974 (đã ly hôn); có 02 con, lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm1999; tiền sự: không; tiền án: Ngày 09/8/2013 bị Tòa án nhân dân thị xã TA xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo bản án số 265/2013/HSST; chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/4/2015, bị bắt tạm giam ngày 20/4/2017, có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

1. Ông Lê Văn Đ, sinh năm 1953; địa chỉ: Khu phố B, phƣờng D, thị xã DA, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.

2. Ông Lê Minh T; địa chỉ: Ấp M, xã P, thị xã GR, tỉnh Bạc Liêu. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Trƣơng Văn T là ngƣời thƣờng xuyên sử dụng trái phép chất ma túy. Khoảng 09 giờ ngày 18/4/2017, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Suzuki màu xanh, biển số 52P4-9915 đến khu vực cầu Vĩnh Bình, thuộc quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh gặp một ngƣời đàn ông (chƣa rõ nhân thân lai lịch) mua 01 gói nylon hàn kín có chứa tinh thể màu trắng với giá 1.200.000 đồng. Sau đó, Tâm mang về nhà tại địa chỉ khu phố Đ, phƣờng V, thị xã TA, tỉnh Bình Dƣơng cất giấu để sử dụng. Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 20/4/2017, T lấy 01 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng bỏ vào trong vỏ gói thuốc lá hiệu Jet để lên giữa mặt nạ và yếm chắn gió xe, T điều khiển xe mô tô biển số 52P4-9915 chạy đến khu vực cổng 17, thuộc Tổ 1, khu phố Đông Chiêu, phƣờng Tân Đông Hiệp, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng thì bị lực lƣợng Công an phƣờng Tân Đông Hiệp kiểm tra, phát hiện gói thuốc lá hiệu Jet bên trong có 01 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng nên lập biên bản phạm tội quả tang.

Tang vật tạm giữ: 01 gói nylon hàn kín chứa chất tinh thể màu trắng; 01 vỏ gói thuốc lá hiệu Jét màu trắng; 01 điện thoại di động hiệu Vetu màu đen có số sim 0934877863 và 01 xe mô tô hiệu Suzuki màu xanh biển số 52P4-9915.

Kết luận giám định số 222/GĐ-PC54 ngày 27/4/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng, kết luận: Tinh thể màu trắng trong 01 gói nylon hàn kín, trọng lƣợng 2,4462 gam có Methamphetamine, có hàm lƣợng 70,81%. Trọng lƣợng Methamphetamine trong 2,4462 gam là 1,7322 gam

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì kết luận giám định số 222/GĐ-PC54 ngày 27/4/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng.

Đối với ngƣời đàn ông bán ma túy cho Trƣơng Văn T hiện chƣa xác định đƣợc nhân thân lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An tiếp tục điều tra xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Vetu màu đen có sim số 0934877863 là tài sản của Trƣơng Văn T không sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An đã trả lại cho Trƣơng Văn T.

Cáo trạng số 204/QĐ-KSĐT ngày 10 tháng 7 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố Trƣơng Văn T về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 194; Điểm p khoản 1 Điều 46; Điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Trƣơng Văn T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 bì thƣ đã niêm phong bên trong có chứa tinh thể màu trắng có Methamphetamine, trọng lƣợng 1,6781 mẫu vật hoàn lại sau giám định và 01 vỏ gói thuốc lá hiệu Jét màu trắng.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Suzuki màu xanh biển số 52P4 – 9915 là tài sản của Trƣơng Văn T sử dụng vào việc phạm tội, đề nghị Tòa án tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nƣớc.

Trƣớc khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Trƣơng Văn T là ngƣời sử dụng trái phép chất ma túy. Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 18/4/2017, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Suzuki màu xanh, biển số 52P4-9915 đến khu vực cầu Vĩnh Bình, thuộc địa bàn quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh gặp một ngƣời đàn ông (chƣa rõ nhân thân lai lịch) mua 01 gói nylon có chứa tinh thể màu trắng với giá 1.200.000 đồng và mang về nhà ở địa chỉ khu phố Đ, phƣờng V, thị xã TA, tỉnh Bình Dƣơng cất giấu để sử dụng. Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 20/4/2017, T lấy 01 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng bỏ vào trong gói thuốc là hiệu Jet rồi điều khiển xe mô tô đến khu vực cổng 17, thuộc tổ 1, khu phố Đông Chiêu, phƣờng Tân Đông Hiệp, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng thì bị lực lƣợng Công an phƣờng Tân Đông Hiệp kiểm lập biên bản phạm tội quả tang.

Kết luận giám định số 222/GĐ-PC54 ngày 27/4/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng, kết luận: tinh thể màu trắng trong 01 gói nylon hàn kín, trọng lƣợng 2,4462 gam có Methamphetamine, có hàm lƣợng 70,81%. Trọng lƣợng Methamphetamine trong 2, 4462 gam là 1,7322 gam.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của chính bị cáo, lời khai của ngƣời làm chứng tại cơ quan điều tra, biên bản bắt ngƣời có hành vi phạm tội quả tang và các tài liệu khác có trong hồ sơ, đã có đủ cơ sở xác định: Hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy của bị cáo Trƣơng Văn T là nguy hiểm cho xã hội. Cáo trạng truy tố số 204/QĐ-KSĐT ngày 10 tháng 7 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng và luận tội của Kiểm sát viên truy tố bị cáo Trƣơng Văn T về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” quy định tại Khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự là có cơ sở, đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo Trƣơng Văn T thực hiện là nghiêm trọng, đã xâm phạm vào sự quản lý độc quyền của Nhà nƣớc về chất ma tuý, gây tác hại cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Hiện nay, Đảng, Nhà nƣớc và toàn xã hội ra sức tuyên truyền cho mọi ngƣời hiểu biết về tác hại của ma túy và ra sức phòng chống, bị cáo biết rõ tác hại của ma túy nhƣng vẫn thực hiện tội phạm.Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tù tƣơng xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung loại tội phạm này trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 09/8/2013 bị Tòa án nhân dân thị xã TA xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo bản án số 265/2013/HSST; chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/4/2015 nhƣng chƣa đƣợc xóa án tích, nay tiếp tục phạm tội mới, thuộc trƣờng hợp tái phạm theo Điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đƣợc xem xét khi quyết định hình phạt: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo; có thái độ ăn năn hối cải.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xét, về mức hình phạt nhƣ đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo Trƣơng Văn T là phù hợp nên có cơ sở chấp nhận.

Về xử lý vật chứng:

- Xét 01 bì thƣ đã niêm phong bên trong chứa tinh thể màu trắng có thành phần Methamphetamine, trọng lƣợng 1,6781gam mẫu vật hoàn lại sau giám định là vật cấm lƣu thông cần tịch thu tiêu hủy.

- Xét 01 vỏ gói thuốc lá Jet màu trắng đây là công cụ bị cáo thực hiện vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Xét 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki màu xanh biển số 52P4 – 9915 qua xác minh thuộc sở hữu của Lê Thị Ngọc D nhƣng hiện không xác định đƣợc nơi cƣ trú, cơ quan cảnh sát điều tra đã thông báo trên phƣơng tiện thông tin đại chúng theo quy định để tìm chủ sở hữu nhƣng không có kết quả, bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nƣớc.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Vetu màu đen có sim số 0934877863 là tài sản của Trƣơng Văn T không sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An đã trả lại cho Trƣơng Văn T là đúng quy định.

Đối với ngƣời đàn ông bán ma túy cho Trƣơng Văn T hiện chƣa xác định đƣợc nhân thân lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An tiếp tục điều tra xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trƣơng Văn T phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 194; Điểm p khoản 1 Điều 46; Điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trƣơng Văn T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/4/2017.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điểm a, b, c khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 01 bì thƣ đã niêm phong bên trong chứa tinh thể màu trắng có thành phần Methamphetamine, trọng lƣợng 1,6781gam mẫu vật hoàn lại sau giám định.

- Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ gói thuốc lá Jet màu trắng.

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nƣớc 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki màu xanh biển số 52P4 – 9915 số khung CG43A-108265, số máy G408-117238.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 11/7/2017 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An với Chi cục thi hành án dân sự thị xã Dĩ An).

3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Trƣơng Văn T phải nộp 200.000 (Hai trăm nghin) đồng án phí hình

̀ sự sơ thẩm.

Bị cáo có mă ̣t đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn

15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ