- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị Hồng L: Buộc bà Nguyễn Thị G phải trả cho chị Phan Thị Hồng L số tiền 20.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LONG AN Bản án số: 183/2017/DS-ST Ngày: 09 - 9 - 2017 “V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA – TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Kim Thanh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trương Thị Kim Tiến
Ông La Văn Việt.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Như Ý, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Ngày 09 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 404/2017/TLST- DS ngày 10 tháng 7 năm 2017 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 275/2017/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 8 năm 2017 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phan Thị Hồng L, sinh năm 1977
Địa chỉ: Số 193 - ấp A, xã A, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1941.
Địa chỉ: 278, ấp A, xã A, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
(Chị L có mặt, bà G xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, chị Phan Thị Hồng L trình bày: Vào ngày 19/4/2016, bà Nguyễn Thị G có thế chấp cho chị 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà G đứng tên để vay của chị số tiền 20.000.000 đồng. Khi vay hai bên thỏa thuận lãi suất là 5%/tháng, thời gian vay 02 tháng. Tuy nhiên từ khi vay đến nay, bà G không trả cho chị số tiền nào, chị có đòi nhiều lần nhưng bà G cứ lẫn tránh. Nay chị yêu cầu bà G trả cho chị số tiền gốc là 20.000.000 đồng, không yêu cầu trả tiền lãi.
Bà Nguyễn Thị G trình bày xác nhận có thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị L để vay của chị L 20.000.000 đồng đúng như chị L trình bày. Hiện nay bà còn nợ chị L số tiền 20.000.000 đồng nên đồng ý trả số tiền trên cho chị L vào ngày 20/11/2017, đồng thời do điều kiện đi lại khó khăn nên bà xin xét xử vắng mặt.
Tại phiên tòa, chị L giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đòi bà G trả 20.000.000 đồng, không yêu cầu trả tiền lãi suất. Bà G vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời trình bày đồng ý trả số tiền trên cho chị L vào ngày 20/11/2017, chị L đồng ý thời gian trả nợ của bà G.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Chị Phan Thị Hồng L yêu cầu bà Nguyễn Thị G trả tiền vay là thuộc quan hệ tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” và bà G là bị đơn có địa chỉ tại ấp A, xã A, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Qua yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị Hồng L, Hội đồng xét xử thấy rằng: Mặc dù bà G vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai thừa nhận số nợ đúng như chị L trình bày, chị L đồng ý thời gian trả nợ của bà G nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Do bà G vắng mặt tại phiên tòa nên không công nhận sự thỏa thuận của chị L với bà G mà buộc bà G có nghĩa vụ trả cho chị L số tiền 20.000.000 đồng là phù hợp theo quy định Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự năm 2015 (Điều 471, 474 của Bộ luật dân sự năm 2005) để đảm bảo quyền kháng cáo cho bà G.
Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà G thế chấp cho chị L để tạo lòng tin, xét thấy chị L không có chức năng cầm cố, thế chấp tài sản nên buộc chị L phải trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà G.
Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bà Nguyễn Thị G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Căn cứ Điều 463, Điều 466 và 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 (Điều 471, 474 của Bộ luật dân sự năm 2005)
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị Hồng L: Buộc bà Nguyễn Thị G phải trả cho chị Phan Thị Hồng L số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) vào ngày 20/11/2017.
Chị Phan Thị Hồng L phải trả lại cho bà Nguyễn Thị G 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 131699 do Ủy ban nhân dân huyện Đức Hòa cấp cho bà Nguyễn Thị G ngày 04/4/1999.
Trường hợp chậm thi hành số tiền trên thì phải trả tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất do các bên thỏa thuận nhưng không vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự. Nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
2. Án phí: Buộc bà Nguyễn Thị G phải chịu 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước.
Hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho chị Phan Thị Hồng L đã nộp là 500.000 đồng (Năm trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0000852 ngày 07/7/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng măt được quyền kháng cáo ttrong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Long An; -VKSND huyện Đức Hòa; - Chi cục THADS huyện Đức Hòa; - Đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Dương Thị Kim Thanh |