vanban.org

Bản án 182/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đà Nẵng, TP Đà Nẵng Tuyên án 12/09/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Viết Khánh H1 phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”

Xử phạt: bị cáo Lê Viết Khánh H1 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/4/2026. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, đã được sửa đổi bổ sung bởi Luật số 12/2017/QH14 và Luật số 86/2025/QH15; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Viết Khánh H phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Viết Khánh H1 phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật hình sự số 86/…; Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 182/2026/HS-ST
Ngày: 12-9-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Trang

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hà Thu

Ông Đặng Văn Khánh

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thảo Vân - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đà Nẵng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thùy Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 179/2026/TLHS-ST ngày 22 tháng 8 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1108/2026/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2026 đối với bị cáo:

LÊ VIẾT KHÁNH HUY, Sinh ngày: 18/8/1998 tại Đà Nẵng. Nơi thường trú: Khối phố M, phường T, thành phố Đà Nẵng. Nơi cư trú: Số A đường L, phường A, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Viết H và bà Hà Anh V; Gia đình có 04 người con, bị cáo là con thứ nhất; Tiền án: Không;

Tiền sự: Ngày 20/9/2023, bị Toà án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng (cũ) ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày 30/8/2023 tại Quyết định số 39/2023/QĐ-TA ngày 20/9/2023, chấp hành xong ngày 30/5/2024.

Nhân thân:

+ Ngày 12/5/2023, bị Công an thành phố T, tỉnh Quảng Nam (cũ) xử phạt hành chính phạt tiền về hành vi về hành vi trộm cắp tài sản.

+ Ngày 28/8/2026 Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đà Nẵng xử phạt 09 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Bị bắt tạm giam từ ngày 28/4/2026, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 05/4/2026, do buồn chuyện gia đình nên Lê Viết Khánh H1 nảy sinh ý định mua ma túy về để sử dụng. H1 lên mạng xã hội facebook liên hệ với một người (không rõ lai lịch) hỏi mua 250.000 đồng ma túy đá thì người này đồng ý bán và hẹn H1 đến khu vực đường N, thành phố Đà Nẵng để giao ma túy. H1 đi xe thồ đến đường N (không rõ địa chỉ cụ thể), theo chỉ dẫn của người này để tiền tại một gốc cây dừa rồi sau đó đi bộ dọc đường N hướng về L. H1 đi bộ khoảng 10 phút thì người này hướng dẫn H1 đến gốc cây gần chỗ H1 đứng nhặt 01 vỏ bao thuốc lá, bên trong có một gói ni lông chứa ma túy đá. H1 cất ma túy trong túi quần tìm vị trí vắng vẻ lấy ma túy đổ ra giấy bạc của gói thuốc lá, dùng bật lửa hơ bên dưới tờ giấy bạc rồi dùng ống nhựa (chuẩn bị sẵn trước đó) để hút. Sau khi sử dụng xong, H1 vứt ống hút nhựa, vỏ bao thuốc lá và giấy bạc vào thùng rác, nằm nghỉ trên hành lang vỉa hè đường N một lúc rồi đi về nhà. Đến 15 giờ ngày 09/4/2026, Công an phường A, thành phố Đà Nẵng tiến hành kiểm danh, kiểm diện, phát hiện Lê Viết Khánh H1 dương tính với ma tuý tổng hợp dạng đá.

Tang vật chứng thu giữ: 01 (một) túi niêm phong bằng giấy có mã số PS2A 057912, tại miệng túi có dán băng keo, trên túi niêm phong có đóng hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K, chữ ký của Giám định viên, Điều tra viên/ cán bộ điều tra, bên trong túi niêm phong có: 01 chai nhựa và vỏ bao gói mẫu là mẫu vật hoàn trả sau giám định. Tại Bản kết luận giám định số 660/KL-KTHS ngày 16/4/2026 của Phòng K - Công an thành phố Đ xác định: Tìm thấy chất ma túy Methamphetamine trong mẫu nước tiểu của Lê Viết Khánh H1 được niêm phong ký hiệu H1 gửi giám định. Từ những tình tiết nêu trên, tại Cáo trạng số 92/CT-VKS ngày 02/7/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Lê Viết Khánh H1 về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, đã được sửa đổi bổ sung bởi Luật số 12/2017/QH14 và Luật số 86/2025/QH15 (Sau đây gọi tắt là Bộ luật Hình sự). Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đà Nẵng thực hiện quyền công tố phát biểu quan điểm luận tội là vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo H1 mức hình phạt từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 09 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đối với túi niêm phong hoàn trả sau giám định mã số PS2A 057912 đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) DVD ghi âm ghi hình buổi hỏi cung Lê Viết Khánh H1 là tài liệu, chứng cứ nên đề nghị lưu trữ theo hồ sơ vụ án.

Ngoài ra trong vụ án còn có:

Đối với người bán ma tuý cho Lê Viết Khánh H1, hiện không xác định được nhân thân, lai lịch, do đó không đề cập xử lý.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Viết Khánh H1 đã khai nhận hành vi như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đà Nẵng truy tố. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt.

Về nói lời sau cùng: Bị cáo Lê Viết Khánh H1 xin Hội đồng xét xử xem xét mức hình phạt nhẹ nhất cho bị cáo để có cơ hội sửa chữa sai lầm và sớm trở về để lo với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đà Nẵng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi bị truy tố, xét xử của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Lê Viết Khánh H1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát, lời khai của bị cáo phù hợp với vật chứng thu hồi được cũng như phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà cơ quan điều tra đã thu thập được thể hiện tại hồ sơ vụ án, nên HĐXX có đủ cơ sở xác định:

Lê Viết Khánh H1 bị Ủy ban nhân dân phường A, thành phố Đà Nẵng ra Quyết định quản lý sau cai nghiện ma tuý tại nơi cư trú số 189/QĐ-UBND ngày 17/7/2025, thời hạn từ ngày 30/5/2024 đến ngày 30/5/2026. Quá trình giải quyết vụ án, căn cứ vào chứng cứ được bổ sung tại phiên tòa ngày 28/7/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đà Nẵng là Quyết định quản lý sau cai số 187/QĐ-UBND ngày 30/5/2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng (cũ) với thời gian quản lý sau cai nghiện của Lê Viết Khánh H1 từ ngày 30/5/2024 đến ngày 30/5/2026. Trong thời gian quản lý sau cai nghiện, vào ngày 05/4/2026, Lê Viết Khánh H1 đã có hành vi sử dụng chất ma tuý và ngày 09/4/2026 bị cáo bị Công an phường A tiến hành kiểm tra thì phát hiện H1 dương tính với ma tuý. Theo Kết luận giám định số 660/KL-KTHS ngày 16/4/2026 của Phòng K - Công an thành phố Đ kết luận: Trong mẫu nước tiểu của Lê Viết Khánh H1 gửi giám định kí hiệu H1 có tìm thấy chất ma tuý loại Methamphetamine.

Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đà Nẵng đã trả hồ sơ để làm rõ căn cứ pháp lý, giá trị pháp lý của 02 Quyết định quản lý sau cai nghiện nêu trên. Tại Công văn số 2156/UBND-VP ngày 17/8/2026 của Ủy ban nhân dân phường A, thành phố Đà Nẵng đã xác định do việc sáp nhập các đơn vị hành chính mới và để thuận tiện cho việc quản lý các đối tượng sau cai nghiện theo thẩm quyền nên UBND phường A ban hành thêm Quyết định quản lý sau cai số 189/QĐ-UBND ngày 17/7/2025 với thời hạn quản lý từ ngày 30/5/2024 đến ngày 30/5/2026.

Quyết định quản lý sau cai số 187/QĐ-UBND ngày 30/5/2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng (cũ) với thời gian quản lý sau cai nghiện của Lê Viết Khánh H1 từ ngày 30/5/2024 đến ngày 30/5/2026 ban hành là đúng quy định pháp luật và bị cáo H1 đã nhận được Quyết định quản lý sau cai. Mặc dù vụ án đang tồn tại 02 Quyết định tuy nhiên thời gian quản lý sau cai của bị cáo Lê Viết Khánh H1 là đảm bảo (24 tháng tính từ ngày chấp hành xong - ngày 30/5/2024 và đều kết thúc thời hạn đảm bảo 24 tháng là ngày 30/5/2026) và vào ngày 05/4/2026 bị cáo H1 đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy loại Methamphetamine.

Do đó, hành vi của cáo Lê Viết Khánh H1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát truy tố bị cáo Lê Viết Khánh H1 về tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo thì thấy:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy. Bị cáo nhận thức rõ ma túy là chất gây nghiện cao, có tác hại nghiêm trọng đến sức khỏe con người và sự phát triển của nòi giống dân tộc, tiêu tốn về kinh tế. Đồng thời, ma túy còn là nguyên nhân làm phát sinh tội phạm nguy hiểm và các tệ nạn xã hội khác như HIV…; nhưng bị cáo vẫn cố ý sử dụng trái phép chất ma túy nhằm phục vụ lợi ích nhu cầu cá nhân của bản thân. Bị cáo H1 là người chưa có tiền án, bị cáo có tiền sự là bị Toà án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng (cũ) ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 12 tháng kể từ ngày 30/8/2023 tại Quyết định số 39/2023/QĐ-TA ngày 20/9/2023, chấp hành xong ngày 30/5/2024. Bị cáo có nhân thân xấu, cụ thể: Ngày 28/8/2026 bị Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đà Nẵng xử phạt 09 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”; Ngày 12/5/2023, bị Công an thành phố T, tỉnh Quảng Nam (cũ) xử phạt hành chính phạt tiền về hành vi về hành vi trộm cắp tài sản, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học, mà lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 05/4/2026.

Do đó, HĐXX xét thấy cần phải xử phạt bị cáo H1 mức án tương xứng với hành vi, phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo nói riêng và góp phần răn đe, đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Lần phạm tội này của bị cáo Lê Viết Khánh H1 là phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lê Viết Khánh H1 đã thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần xem xét cho bị cáo H1 khi lượng hình.

Tại phiên tòa, mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đà Nẵng đề nghị áp dụng cho bị cáo Lê Viết Khánh H1 là có căn cứ, đúng luật, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo như đã phân tích nêu trên, nên được HĐXX chấp nhận. [5] Đối với đối tượng đã bán ma túy cho Lê Viết Khánh H1, hiện không xác định được nhân thân lai lịch, do đó Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ không đề cập xử lý là có cơ sở. [6] Về xử lý vật chứng:

Đối với túi niêm phong hoàn trả sau giám định mã số PS2A 057912. Đây là tang vật của vụ án nên Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy.

(Vật chứng nêu trên đang nằm tại kho vật chứng thuộc Phân trại tạm giam C - Trại tạm giam số 1 Công an thành phố Đ theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 07/7/2026).

Đối với 01 (một) DVD ghi dữ liệu hỏi cung ghi hình có âm thanh của Lê Viết Khánh H1 là tài liệu, chứng cứ nên cần tiếp tục lưu trữ theo hồ sơ vụ án.

Về án phí: Bị cáo Lê Viết Khánh H1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, đã được sửa đổi bổ sung bởi Luật số 12/2017/QH14 và Luật số 86/2025/QH15.

Tuyên bố bị cáo Lê Viết Khánh H1 phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”

Xử phạt: bị cáo Lê Viết Khánh H1 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/4/2026.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, đã được sửa đổi bổ sung bởi Luật số 12/2017/QH14 và Luật số 86/2025/QH15; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, đã được sửa đổi bổ sung bởi Luật số 02/2021/QH15, Luật số 34/2024/QH15, Luật số 59/2024/QH15 và Luật số 99/2025/QH15. T:

2.1. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) túi niêm phong mã số PS2 PS2A 057912 bên trong có 01 chai nhựa đựng nước tiểu của bị cáo Lê Viết Khánh H1 và vỏ bao gói mẫu hoàn trả sau giám định có đóng hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an thành phố Đ.

(Vật chứng nêu trên đang nằm tại kho vật chứng thuộc Phân trại tạm giam C - Trại tạm giam số 1 Công an thành phố Đ theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 07/7/2026).

2.2. Tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án đối 01 (một) DVD ghi dữ liệu hỏi cung ghi hình có âm thanh của Lê Viết Khánh H1.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, đã được sửa đổi bổ sung bởi Luật số 02/2021/QH15, Luật số 34/2024/QH15, Luật số 59/2024/QH15 và Luật số 99/2025/QH15; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lê Viết Khánh H1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND khu vực 3 - Đà Nẵng;

- VKSND TP. Đà Nẵng;

- Cơ quan CSĐT CA TP. Đà Nẵng;

- Cơ quan THAHS CA TP. Đà Nẵng;

- Phòng THADS khu vực 3 - Đà Nẵng;

- Sở tư pháp TP. Đà Nẵng;

- Phân trại tạm giam Cẩm Lệ;

- Trại tạm giam số 01 - CA TP. Đà Nẵng;

Đỗ Thị Thu Trang

- Lưu hồ sơ.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ