- Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYEN DINH L - NGUYEN VAN C - mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 182/2026/HS-ST Ngày: 24 - 7 - 2026. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Nga.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Nguyễn Thanh Tùng
2/ Ông Đinh Quang Chương
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Vân – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Diệp Ngọc Dinh – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 115/2026/TLST-HS ngày 14 tháng 4 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 208/2026/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2026 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Định L, sinh năm: 1999; tại Thành phố Hồ Chí Minh; CCCD: 074099005251. Nơi thường trú: Số C (số cũ 42/33), Tổ 33, khu phố P, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Lao đông tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Công S và bà Nguyễn Thị L1; có vợ là Lê Như Thảo V và có 01 con sinh năm 2025; tiền án; tiền sự; nhân thân: Không. Bị bắt tạm giam từ ngày 03/10/2025 đến nay; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Định L: Ông Nguyễn Tấn Đ và bà Đinh Thị H – Luật sư, Công ty L2 và Cộng sự – Thuộc đoàn Luật sư Thành phố H; địa chỉ liên hệ: Số B đường D, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt
2. Nguyễn Văn C, sinh năm: 2000; tại Thành phố Hồ Chí Minh; CCCD: 074200007874. Nơi thường trú: Số D Tổ C, khu phố P, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P (đã chết) và bà Ngô Thị Thu H1; chưa có vợ con; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 06/5/2024, bị Công an phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là Công an phường B, Thành phố Hồ Chí Minh) xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý số tiền 1.500.000 đồng theo Quyết định số 17/QĐ -XPHC, bị cáo đã nộp phạt ngày 05/02/2025; nhân thân: Ngày 10/7/2024, bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng theo Quyết định số 43/QĐ-TA của Toà án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương (nay là Toà án nhân dân khu vực 15 – Thành phố H), chấp hành xong quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc ngày 25/7/2025. Bị bắt tạm giữ, giam từ ngày 21/9/2025 đến nay; có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn C là đối tượng thuộc diện quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo Quyết định số 221/QĐ-UBND ngày 05/8/2025 của Ủy ban nhân dân phường B, Thành phố Hồ Chí Minh. Khoảng 20 giờ ngày 16/9/2025, khi C đang ở nhà tại địa chỉ số D tổ C, khu phố P, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh thì nảy sinh ý định mua ma túy về sử dụng. Do C và Nguyễn Định L là bạn bè quen biết ngoài xã hội nên C biết Luật có bán ma túy, do đó C liên hệ Luật qua ứng dụng M để hỏi mua ma túy với số tiền 300.000 đồng thì Luật đồng ý. C điều khiển xe máy nhãn hiệu Sonic (không rõ biển số, do C mượn của người bạn tên H2) một mình đến trước nhà trọ địa chỉ số B đường N, khu phố P, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh và gọi cho Luật nhưng không được. Sau đó, C thấy Luật từ phía trong nhà trọ đi ra và đứng bên trong cửa đưa ra cho C 01 gói thuốc lá hiệu Jet, bên trong có 01 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng (ma túy đá). Sau khi cầm gói thuốc lá thì C đưa cho Luật 300.000 đồng (gồm 01 tờ 200.000 đồng và 01 tờ 100.000 đồng) và điều khiển xe chạy về nhà. Tại nhà của C, C lấy một bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế từ chai nhựa, ống hút và ống thủy tinh một đầu bầu dục sau đó bỏ ma túy đá (loại Methamphetamine) vào ống thủy tinh rồi hơ nóng, sau đó hút qua ống hút vào cơ thể. C sử dụng ma túy liên tục đến 23 giờ 30 phút cùng ngày thì C để bộ dụng cụ trên bàn rồi đi ngủ. Đến khoảng 03 giờ sáng ngày 17/9/2025, bà Ngô Thị Thu H1, cư trú tại số D, tổ C, khu phố P, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh (mẹ ruột của C) vào phòng C thì nhìn thấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy nên biết C sử dụng ma túy lại, do đó bà H1 đã cầm bộ dụng cụ ra ngoài đập bể rồi bỏ vào thùng rác.
Đến 08 giờ 30 phút ngày 18/9/2025, Công an phường B tiến hành mời C là đối tượng quản lý sau cai nghiện đến Công an phường làm việc. Qua test nhanh ma túy phát hiện C dương tính với ma túy đá (loại Methamphetamine) nên đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với C để làm rõ nội dung vụ việc.
Nguyễn Định L là đối tượng nghiện ma túy, bắt đầu sử dụng ma túy từ đầu năm 2024 đến nay. Luật thường mua ma túy của đối tượng tên L1, có tài khoản Z là “Nồ nố nô” (chưa xác định được nhân thân, lai lịch), L1 thường giao ma túy cho L tại khu vực phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh). Đến khoảng tháng 6 năm 2025 thì Luật mua ma túy đá của đối tượng tên Lương Quang H3, có tài khoản Z là “Tôi vẫn là tôi”. Khoảng 03 ngày, L liên hệ mua ma túy của H3 một lần, mỗi lần mua 50 số với số tiền 2.800.000 đồng. Ngày 16/9/2025, L liên hệ với H3 để mua ma túy với số tiền 2.800.000 đồng, địa điểm H3 hẹn Luật tại công viên T, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh (đối diện Văn phòng khu phố C, phường D), trả tiền bằng hình thức Luật chuyển khoản cho H3 qua ứng dụng Momo. Luật mua ma túy của đối tượng H3 để sử dụng, khi có người hỏi mua ma túy nếu còn dư thì Luật bán. Luật bán ma túy được 05 lần cho 05 người từ ngày 16/9/2025 đến ngày 18/9/2025, Luật không xác định được nhân thân, lai lịch của những người này do liên hệ mua bán thông qua mạng xã hội Zalo. Số tiền Luật thu được từ việc bán ma túy cho những người này là 300.000 đồng. Ngày 16/9/2025, Luật bán ma túy cho Nguyễn Văn C với số tiền 300.000 đồng, Luật chỉ bán ma túy cho C 01 lần vào ngày 16/9/2025.
Căn cứ Kết luận giám định ngày 30/9/2025 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận: Mẫu nước tiểu của Nguyễn Văn C gửi giám định có thành phần ma túy, loại Methamphetamine (BL số 13).
Cáo trạng số 168/CT-VKSKV15 ngày 14/4/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Nguyễn Định L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự.
Đối với đối tượng Lương Quang H3 đã bán ma tuý cho Nguyễn Định L vào ngày 19/6/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự số A5912/QĐ-CSMT ngày 16/3/2026 để tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
Tại phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh trong phần tranh luận, giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo, đồng thời đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự:
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Định L mức hình phạt từ 07 năm đến 08 năm tù.
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C mức hình phạt từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Buộc bị cáo Nguyễn Định L giao nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 600.000 đồng thu được từ việc bán ma túy.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Định L trình bày:
Về tội danh: Thống nhất tội danh mà Viện kiểm sát truy tố.
Về tình tiết giảm nhẹ: Ngoài các tình tiết giảm nhẹ mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo thì đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm các tình tiết giảm nhẹ: Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả (bị cáo đã tự nguyện giao nộp số tiền thu lợi bất chính); Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án (bị cáo đã chủ động cung cấp đầy đủ thông tin về đối tượng bán ma tuý trái phép cho bị cáo); bị cáo có công việc ổng định, là lao động chính trong gia đình, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng theo quy định tại điểm b, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình Sự. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn đối với bị cáo.
Tại phần tranh luận, bị cáo Nguyễn Định L không tranh luận, thống nhất ý kiến của người bào chữa cho bị cáo; bị cáo Nguyễn Văn C không tranh luận.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo nhận thức được hành vi sai trái của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là phù hợp với quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo phù hợp biên bản xác định hiện trường, lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Ngày 16/9/2025, tại số nhà B, đường N, khu phố P, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Định L đã bán ma túy loại Methamphetamine cho Nguyễn Văn C với số tiền 300.000 đồng. Ngoài ra, Luật còn bán ma túy 05 lần cho 05 người (chưa xác định rõ nhân thân, lai lịch) thu lợi bất chính được số tiền 300.000 đồng.
Vào ngày 16/9/2025, Nguyễn Văn C là đối tượng thuộc diện đang trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo Quyết định số 221/QĐ-UBND ngày 05/8/2025 của Ủy ban nhân dân phường B, Thành phố Hồ Chí Minh có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý tại số D tổ C, khu phố P, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 18/9/2025, C bị Công an phường B, Thành phố Hồ Chí Minh mời làm việc và qua kiểm tra kết quả dương tính với ma tuý (loại Methamphetamine).
Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Định L thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn C thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh truy tố các bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.
Hành vi mà các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy. Hiện nay, tình hình nghiện hút chất ma túy đang diễn ra phức tạp trong mọi tầng lớp. Tệ nạn này là mối quan tâm của toàn xã hội, một trong những nguyên nhân dẫn đến tệ nạn này chưa được đẩy lùi chính là có sự tiếp tay của các bị cáo.
Do đó, để có tác dụng giáo dục các bị cáo ý thức tuân theo pháp luật, cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Bị cáo Nguyễn Định L thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có bà cố là người có công cách mạng được tặng Huân chương kháng chiến hạng Ba là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, căn cứ vào nhân thân bị cáo, xét mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với các bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Lời trình bày của người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Định L là phù hợp với một phần nhận định của Hội đồng xét xử. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, t khoản 1 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo là không phù hợp quy định pháp luật nên không chấp nhận.
Về biện pháp tư pháp: Căn cứ quy định tại Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 600.000 đồng là khoản thu lợi bất chính từ việc phạm tội mà bị cáo Nguyễn Định L đã giao nộp (do ông Nguyễn Công S nộp thay) theo Biên lai thu tiền ký hiệu BLTT/26E, số 0000593 ngày 08/7/2026 của Thi hành án dân sự Thành phố H.
Án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Các Điều 106, 136, 260, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Các Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Định L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”
2. Về hình phạt:
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Định L 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/10/2025.
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/9/2025.
3. Về biện pháp tư pháp: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) mà bị cáo Nguyễn Định L đã giao nộp (do ông Nguyễn Công S nộp thay) theo Biên lai thu tiền ký hiệu BLTT/26E, số 0000593 ngày 08/7/2026 của Thi hành án dân sự Thành phố H.
4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Định L, Nguyễn Văn C mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh; - Công an Thành phố Hồ Chí Minh (PV06); - THAHS Công an Thành phố Hồ Chí Minh (PC 10); - VKSND Khu vưc 15 - TP Hồ Chí Minh; - THADS Thành phố Hồ Chí Minh; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: Hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Minh Nga Nguyễn Thị Minh N Nguyễn Thị Minh N |