vanban.org

Bản án 182/2025/HSPT — Hình sự

TAND TP Đà Nẵng Tuyên án 19/08/2025 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 19/08/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Sơn T, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 12/2025/HS-ST ngày 15 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam (nay là Tòa án nhân dân khu vực 7 – Đà Nẵng) về hình phạt.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Sơn T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. Bị cáo Nguyễn Sơn T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Sơn T - phạm tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (điều 169 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Sơn T, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 12/2025/HS-ST ngày 15 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam (nay là Tòa án nhân dân khu vực 7 – Đà Nẵng) về hình phạt.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 169 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 182/2025/HS-PT
Ngày: 19 - 8 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Phú

Các Thẩm phán:

Ông Trần Mạnh Dũng

Bà Lê Thị Anh Đào

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Thái Ngọc Nhật - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Việt Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng – Cơ sở 02, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 169/2025/TLPT-HS ngày 23 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Sơn T, do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Sơn T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 12/2025/HS-ST ngày 15 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam (nay là Tòa án nhân dân khu vực 7- Đà Nẵng).

Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Sơn T, sinh ngày 28/3/1986; nơi cư trú: khối phố Trà Cai, phường Bàn Thạch, thành phố Đà Nẵng (địa chỉ cũ: Khối phố Trà Cai, phường Hoà Thuận, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam); nghề nghiệp: nông; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn B và bà Nguyễn Thị L; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trước đây, bà Bùi Thị Tuyết chung sống như vợ chồng với ông Lê Văn Thủy, quá trình sống chung với ông Thủy, bà Tuyết có mượn tiền và vàng của chị em ruột ông Thủy để làm nhà; cụ thể: bà Lê Thị Thức cho mượn 03 (ba) chỉ vàng (24K); bà Lê Thị Hoa cho mượn 50.000.000 đồng; ông Lê Văn Dũng cho mượn 10.000.000 đồng và bà Lê Thị Huệ cho mượn 10.000.000 đồng. Được một thời gian thì bà Tuyết và ông Thủy phát sinh mâu thuẫn không sống chung với nhau nữa và bà Tuyết hứa hẹn sẽ trả nợ cho chị em của ông Thủy (đại diện trong giấy nhận nợ của bà Tuyết là bà Lê Thị Thức - chị ruột ông Thủy). Trước đó, khi ông Thủy và bà Tuyết còn sinh sống hòa thuận thì Lê Thị Thùy Trang và Lê Văn Quốc (là con ruột ông của Thủy) được hưởng số tiền thừa kế do ông bà nội (cha mẹ ông Thủy) để lại cho mỗi người số tiền 100 triệu đồng. Khi đó, bà Tuyết cùng các cô chú ruột (Thức, Hoa, Huệ, Dũng) và Trang cùng thống nhất là bà Tuyết nhận tất cả các khoản nợ (gồm 03 chỉ vàng và 70 triệu tiền mặt xem như bà Tuyết nợ Trang và có trách nhiệm trả nợ cho Trang. Còn số tiền thừa kế 100 triệu của Trang được sử dụng trả nợ trước cho các cô, chú ruột của mình. Do đó, đến cuối năm 2021, khi biết tin bà Tuyết mua đất làm nhà tại thôn Xuân Định, xã Tam Đàn, Trang có đến tìm bà Tuyết để đòi nợ 02 lần nhưng không được và bà Tuyết chỉ chịu trả nợ cho các anh, chị, em ruột của ông Thủy. Trang ngày càng đòi nợ gắt gao hơn thì đến ngày 25/02/2022, bà Tuyết có viết giấy nhận nợ và có hứa hẹn sẽ trả nợ dần dần như sau: Vào ngày 25/5/2022 trả trước 03 chỉ vàng 24K, 03 tháng sau mỗi tháng trả 20 triệu và trả dần cho đến hết nợ. Đến ngày 25/5/2022, khi đến hẹn mà chưa thấy bà Tuyết trả nợ nên Trang cùng Quốc đến nhà bà Tuyết để lấy tiền nợ. Trang nhờ Trần Anh Đức dùng xe ôtô bán tải màu trắng BKS 92C-141.34 chở; Quốc nhờ Nguyễn Sơn T dùng xe môtô loại Honda SH màu trắng BKS 92B1-275.04 chở. Khi Trang, Quốc, T, Đức đến nơi thì thấy bà Tuyết đang dắt xe ra khỏi cổng nhà; khi vừa nhìn thấy Quốc và Trang thì ngay lập tức bà Tuyết dắt xe bỏ chạy vào sân nhà ông Phạm Văn Ngọc vì sợ bị hành hung. Thấy vậy Quốc, Trang đuổi theo, dùng chân đạp ngã xe và dùng tay đánh vào người bà Tuyết. Sau đó, Quốc và Trang dùng tay kéo bà Tuyết trong tư thế nằm ngửa, chà lết vùng mông dưới nền xi măng từ sân nhà ông Ngọc ra ngoài đường. Tại đây, Trang và Quốc tiếp tục dùng tay, chân đánh bà Tuyết và dùng lời lẽ lớn tiếng để yêu cầu bà Tuyết trả nợ. Sau đó, Quốc dùng tay xốc nách bà Tuyết, tay còn lại cầm chân và bồng (bế) bà Tuyết bỏ lên xe Honda SH của T đang chờ sẵn, Quốc ngồi sau ôm giữ bà Tuyết, còn T điều khiển xe chở bà Tuyết đi đến nhà của bà Lê Thị Thức (khối phố Trà Cai, phường Hòa Thuận, TP. Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam - là cô ruột của Trang). Đồng thời lúc đó, Đức chở Trang cùng đi theo sau xe SH về được một đoạn và rẽ theo đường khác về lại Tam Kỳ tới đường bê tông rẽ vào nhà bà Thức thì Trang xuống xe còn T chở bà Tuyết và Quốc về đến cổng nhà bà Thức thì T điều khiển xe máy đi về. Tại trước nhà bà Thức, Trang và Quốc tiếp tục dùng tay đánh vào người bà Tuyết và yêu cầu bà Tuyết trả nợ. Với áp lực của Trang và Quốc tạo ra thì bà Tuyết điện thoại cho con gái tên Nguyễn Thị Quỳnh Vân và con trai Nguyễn Văn Trường trả nợ giúp bà Tuyết. Do thời gian về khuya nên Trang và Quốc đưa bà Tuyết ra quán nước giải khát lề đường Trần Phú (gần ngã rẽ đường bê tông vào nhà bà Thức) để chờ Vân và Trường đưa tiền. Một lúc sau, Vân chuyển khoản vào số tài khoản của Trang với số tiền là 5.000.000 (năm triệu) đồng và Trường đi cầm cố điện thoại Iphone 11 promax được 10.000.000 (mười triệu) đồng mang đến đưa cho Trang. Khi Trang nhận tổng số tiền là 15.000.000 (mười lăm triệu đồng - tương đương với 03 chỉ vàng 24K) từ người nhà bà Tuyết để trả nợ thay cho bà Tuyết thì Trang và Quốc cho Trường chở bà Tuyết về. Bà Tuyết được Trường đưa đến Bệnh viện Minh Thiện thành phố Tam Kỳ cấp cứu với nhiều thương tích trên cơ thể.

Với nội dung vụ án như trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 12/2025/HS-ST ngày 15/5/2025 của Tòa án nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam (Tòa án nhân dân khu vực 7 – Đà Nẵng) đã quyết định:

Căn cứ điểm a, h khoản 2 Điều 169 Bộ luật Hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Nguyễn Sơn T phạm tội “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Sơn T 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định hình phạt đối với các bị cáo khác, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 25/5/2025, bị cáo Nguyễn Sơn T có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Sơn T về tội “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a, h khoản 2 Điều 169 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và đúng pháp luật. Đồng thời, đã xem xét áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để làm căn cứ xử phạt bị cáo Nguyễn Sơn T 02 năm 06 tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tại cấp phúc thẩm, không phát sinh tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Sơn T, giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm.

Bị cáo không tranh luận, xin được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Sơn T có đơn kháng cáo theo đúng quy định tại các Điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên kháng cáo của bị cáo là hợp pháp.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Sơn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Tòa án cấp sơ thẩm đã quy kết.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được Cơ quan điều tra chứng minh có tại hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên toà. Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở kết luận:

Do muốn đòi lại khoản tiền nợ trước đó mà bà Bùi Thị Tuyết chưa trả theo thỏa thuận giữa bà Tuyết và Lê Thị Thuỳ Trang nên ngày 25/05/2022, Trang và Quốc thống nhất sẽ đi tìm bà Tuyết để đòi nợ. Khi đi, Trang nhờ Trần Anh Đức chở Trang, Quốc nhờ Nguyễn Sơn T chở Quốc, khi gặp bà Tuyết, Trang và Quốc đã có hành vi dùng tay, chân đánh, đạp, kéo lê bà Tuyết từ sân nhà ông Phạm Văn Ngọc ra đến đường bê tông, gây thương tích cho bà Tuyết.

Trang và Quốc tiếp tục đánh bà Tuyết, buộc bà Tuyết phải ngồi lên xe cho T chở đi, bà Tuyết không đồng ý thì bị Quốc dùng vũ lực đưa bà Tuyết lên yên xe Honda SH của T, Quốc ngồi sau giữ bà Tuyết, T điều khiển xe chở bà Tuyết và Quốc đi đến nhà bà Lê Thị Thức. Sau khi đưa bà Tuyết đến nhà bà Thức thì Trang, Quốc tiếp tục đánh, ép buộc bà Tuyết phải gọi điện thoại cho các con bà Tuyết mang tiền đến trả cho Trang thì Trang mới cho bà Tuyết đi về. Sau đó, chị Vân và anh Trường đã đưa cho Trang tổng số tiền 15.000.000 đồng thì Trang mới cho anh Trường đưa bà Tuyết về.

Do đó, Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2025/HS-ST ngày 15/5/2025 của Tòa án nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam (nay là Tòa án nhân dân khu vực 7 – Đà Nẵng) đã kết án bị cáo Nguyễn Sơn T về tội “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a, h khoản 2 Điều 169 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và đúng pháp luật.

Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Sơn T, thì thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất của vụ án, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra; đã áp dụng đầy đủ tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 đồng thời áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Sơn T mức hình phạt 02 năm 06 tháng tù là có căn cứ pháp luật và không nặng. Sau khi xét xử sơ thẩm, không phát sinh tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, bị cáo không đủ điều kiện để được hưởng án treo, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt theo như đề nghị của Kiểm sát viên.

Về án phí hình sự phúc thẩm: do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Sơn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Sơn T, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 12/2025/HS-ST ngày 15 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam (nay là Tòa án nhân dân khu vực 7 – Đà Nẵng) về hình phạt.

2. Căn cứ vào điểm a, h khoản 2 Điều 169; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Nguyễn Sơn T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

3. Bị cáo Nguyễn Sơn T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (19/8/2025).

Cỡ chữ