- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô thanh t - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ngô Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH Đ Bản án số: 182/2025/HS-ST Ngày 31 tháng 3 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH Đ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Ngọc Hoa
Ông Phan Anh Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 3 năm 2025, tại điểm cầu Trung tâm – hội trường số 4 trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B và điểm cầu thành phần Phân trại tạm giam khu vực thành phố B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 170/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 173/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Ngô Thanh T (tên gọi khác: Không), sinh ngày 23/10/1987 tại Đ.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 135/1B, khu phố 3, phường T, thành phố B, tỉnh Đ.
Nơi ở hiện nay: 135/1B, khu phố 3, phường T, thành phố B, tỉnh Đ.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Giới tính: Nam.
Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12.
Họ tên cha: Ngô Văn Đạt, sinh năm 1949 (còn sống).
Họ tên mẹ: Bùi Thị Sẽ , sinh năm 1957 (còn sống).
Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình và chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ tạm giam ngày 26/11/2024.
Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực thành phố B
(Bị cáo có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngô Thanh T, sinh năm 1987, hộ khẩu thường trú tại 135/1B, khu phố 3, phường T, thành phố B, tỉnh Đ là đối tượng thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy.
Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 26/11/2024, Ngô Thanh T đi xe buýt đến khu vực ngã ba Bình Thung thuộc thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương gặp một người đàn ông tên Phúc (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 02 gói ma tuý đá với giá 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma tuý, T đem về nhà tại địa chỉ 135/1B, khu phố 3, phường T, Thành phố B cất giấu 01 gói trên tủ nhựa và 01 gói dưới tủ gỗ tivi trong phòng ngủ của mình với mục đích để sử dụng.
Đến khoảng 09 giờ 30 cùng ngày, Công an phường T kiểm tra nhà của T phát hiện 02 gói ma tuý (01 gói trên tủ nhựa và 01 gói dưới tủ gỗ tivi trong phòng ngủ của T) nên đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối T về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thu giữ và niêm phong tang vật có liên quan để xử lý theo quy định.
Quá trình điều tra, T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.
*Vật chứng thu giữ:
+ 01 gói nylon hàn kín chứa ma tuý thu giữ trên tủ nhựa.
+ 01 gói nylon hàn kín chứa ma tuý thu giữ dưới tủ gỗ để tivi.
- Biên bản xét nghiệm nhanh chất ma túy đối với T: Xét nghiệm nước tiểu dương tính với Ma tuý Methaphetamin.
* Kết luận giám định số 2436/KL-KTHS ngày 02/12/2024, của Phòng kỹ thuật công an tỉnh Đ kết luận:
+ Mẫu tinh thể màu trắng (M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng 0,2689 gam loại Methamphetamine.
+ Mẫu tinh thể màu trắng (M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng 1,0357 gam loại Methamphetamine.
Tại Bản cáo trạng số 190/CT-VKS-BH ngày 28 tháng 02 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đã truy tố các bị cáo Ngô Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Ngô Thanh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Tuyên bố bị cáo Ngô Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù giam.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ lượng ma túy còn lại sau giám định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án:
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội là vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 26/11/2024, tại nhà số 135/1B, khu phố 3, phường T, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đ, Công an phường T kiểm tra hành chính phát hiện bắt quả tang Ngô Thanh T tàng trữ trái phép chất ma túy, có khối lượng 1,3046 gam, loại: Methamphtamine, mục đích để sử dụng.
Về tội danh:
Xét thấy, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có căn cứ để xác định hành vi phạm tội của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố B đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội của mình.
Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, làm gia tăng các tệ nạn xã hội. Do đó, cần phải có hình phạt nghiêm cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên cũng xem xét các tình tiết giảm nhẹ khác để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng nào tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Xét thấy, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhân thân tốt chưa tiền án tiền sự nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc, xem xét giảm nhẹ khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy toàn bộ lượng ma túy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B thu giữ sau giám định.
Đối với tên Phúc (chưa rõ lai lịch) có hành vi bán ma túy cho bị cáo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017;
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ các Điều 136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Tuyên bố bị cáo Ngô Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Ngô Thanh T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/11/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ lượng ma túy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B thu giữ sau giám định.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/3/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B)
3. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND thành phố B; - VKSND tỉnh Đ; - Công an tỉnh Đ; - Chi cục THADS thành phố B; - Thi hành án hình sự; - Lưu. | Trần Thị Cẩm |