- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Hồng Tâm vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Hồng T phạm tội “Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 182/2025/HS-ST Ngày: 29 - 12 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Dung
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Xuân Sơn
Bà Đỗ Thị Thúy Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Hà Nội tham gia phiên tòa : Ông Nguyễn Thái Bình - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 12 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 134/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 188/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2025, đối với:
- Bị cáo: Lê Hồng T, sinh năm 1983 tại tỉnh Hưng Yên; Nơi thường trú: Thôn B, xã P, tỉnh Hưng Yên; Căn cước công dân số 001083021900 do Cục trưởng Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 20/12/2022. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn Đ và bà Phan Thị C; có vợ và có 03 con; Tiền án: không; Tiền sự: không; tạm giữ: không; tạm giam: không; Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
+ Anh Nguyễn Chung T, sinh năm 2001; Địa chỉ: Thôn 5, xã Bất B, thành phố Hà Nội (đã chết).
+ Anh Trần Văn H, sinh ngày 23/4/2007; Địa chỉ: Thôn 5, xã Bất B, thành phố Hà Nội, có văn bản xin vắng mặt tại phiên tòa.
-Người đại diện hợp pháp của bị hại anh Nguyễn Chung T:
+ Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1971 (là bố đẻ của anh T), vắng mặt tại phiên tòa.
+ Bà Lê Thị K, sinh năm 1975 (là mẹ đẻ của anh T), có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.
+ Chị Đặng Thị Bích T, sinh năm 2003 (là vợ của anh T), vắng mặt tại phiên tòa.
+ Cháu Nguyễn Ngọc Bảo H, sinh năm 2022 (là con của anh T), vắng mặt tại phiên tòa.
+ Cháu Nguyễn Bảo M, sinh năm 2024 (là con của anh T), vắng mặt tại phiên tòa.
Ông C, bà K, chị T, cháu H và cháu M đều ở cùng địa chỉ: Thôn 5, xã B, thành phố Hà Nội.
Đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn C và chị Đặng Thị Bích T là: Bà Lê Thị K, sinh năm 1975; Địa chỉ: Thôn 5, xã Bất B, thành phố Hà Nội, có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Anh Vương Văn P, sinh năm 1968; Địa chỉ: Thôn T, xã P, thành phố Hà Nội, vắng mặt tại phiên tòa.
+ Anh Nguyễn Minh T, sinh năm 1984; Địa chỉ: Thôn A, xã S, thành phố Hà Nội, có mặt tại phiên tòa.
+ Chị Đặng Thị Bích T, sinh năm 2003; Địa chỉ: Thôn 5, xã B, thành phố Hà Nội, vắng mặt tại phiên tòa.
+ Chị Nguyễn Thị Hồng Đ, sinh năm 1982; Địa chỉ: Thôn B, xã P, tỉnh Hưng Yên, có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
+ Anh Phạm Thanh L, sinh năm 2000; Địa chỉ: Thôn 3, xã Bất B, thành phố Hà Nội, vắng mặt tại phiên tòa.
+ Chị Vũ Thị Th, sinh năm 1973; Địa chỉ: Thôn 6, xã Bất B, thành phố Hà Nội,vắng mặt tại phiên tòa.
+ Anh Nguyễn Đình C, sinh năm 1982; Địa chỉ: Thôn 2, xã Bất B, thành phố Hà Nội, vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 06/3/2025, Lê Hồng T, sinh năm 1983; trú tại: xã Phụng Công, tỉnh Hưng Yên điều khiển chiếc xe ô tô tải (loại xe tải cẩu) BKS: 38C-164.60 di chuyển trên đường tỉnh lộ 412 hướng Ba T đi T đến quán ăn biển hiệu Cường Thịnh (nằm ở bên phải đường theo hướng di chuyển) thì dừng lại và đỗ xe ô tô để vào bên trong quán ăn. Thời điểm này, phía trước cửa quán có 3 chiếc ô tô đã đỗ ở bên phải đường nên T điều khiển xe đỗ ở vị trí sát mép đường bên phải và ngay phía trước các ô tô nêu trên (đường rộng 11m, làn đường rộng 5,5m, phần thân xe ô tô tải lấn ra lòng đường 1,75m). T không bật đèn cảnh báo, không đặt vật cảnh báo ở trước và sau xe.
Cùng trong buổi tối ngày 06/3/2025, Nguyễn Chung T, sinh năm 2001, trú tại: thôn 5, xã Bất B, thành phố Hà Nội và Trần Văn H, sinh ngày 23/4/2007, trú tại: thôn 5, xã Bất B, thành phố Hà Nội uống rượu cùng nhóm bạn tại quán ăn của nhà “Mạnh Hà” ở thôn 6, xã Bất B, thành phố Hà Nội. Đến khoảng 21 giờ 15 phút cùng ngày, cả nhóm uống rượu xong. Thành điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 29V1-770.33 (là xe của vợ T là chị Đặng Thị Bích T) chở theo H đi từ quán ăn theo đường tỉnh lộ 414C để về nhà. Khi đang di chuyển trên đường, do thiếu chú ý quan sát nên phần đầu xe mô tô do T điều khiển đã đâm vào phần đuôi xe bên trái của chiếc xe ô tô tải BKS: 38C-164.60 đang đỗ bên phải đường cùng chiều xe mô tô di chuyển như nêu trên.
Hậu quả: Anh Nguyễn Chung T bị thương nặng được đưa đi cấp cứu, do vết thương quá nặng nên đã tử vong. Anh Trần Văn H bị chấn thương sọ não. Phương tiện xe mô tô bị hư hỏng.
Sau khi vụ việc xảy ra, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám nghiệm các phương tiện, kết quả như sau:
* Kết quả khám nghiệm hiện trường:
- Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là đường thẳng hai chiều, mặt đường được trải nhựa bằng phẳng, tiếp giáp hai bên mép đường là nền đất và khu vực nhà dân. Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn đang trong quá trình thi công, chưa có hệ thống biển báo hiệu và vạch kẻ đường. Mặt đường rộng 11,0m.
- Các dấu vết và đánh số thứ tự:
(1)Vị trí các mảnh vỡ rải rác trên mặt đường;
(2)Vị trí vết máu dạng loang;
(3)Vị trí vết máu dạng loang;
(4)Vị trí vết dầu dạng loang.
- Xác định điểm mốc và mép đường chuẩn:
Lấy cột điện ký hiệu P2L/PC10/130 nằm ngoài mép đường phải theo chiều Ba Trại đi Thuần Mỹ làm mốc. Mốc cách mép đường phải theo chiều Ba Trại đi Thuần Mỹ là 2,70m. Mốc cách trục sau bên phải xe ô tô BKS: 38C - 164.60 là 2,40m. Lấy mép đường phải theo chiều Ba Trại đi Thuần Mỹ làm mép chuẩn.
- Ghi nhận vị trí phương tiện, dấu vết tại hiện trường:
+ Xe ô tô BKS: 38C - 164.60 đang dừng đỗ bên lề đường phải theo chiều Ba Trại đi Thuần Mỹ. Đầu xe hướng đi Thuẫn Mỹ, đuôi xe hướng Ba Trại. Trục trước bên phải cách vào mép chuẩn là 0,45m. Trục sau bên phải cách vào mép chuẩn là 0,3m. Trục trước bên trái cách mép chuẩn là 1,50m. Trục sau bên trái cách mép chuẩn là 1,75m.
+ Xe mô tô BKS: 29V1 - 770.33 sau tai nạn được dựng chân chống phụ trên mặt đường. Đầu xe hướng mép chuẩn, đuôi xe hướng mép đường trái theo chiều Ba Trại đi Thuần Mỹ. Trục trước cách mép chuẩn 2,15m và cách trục sau bên phải xe ô tô BKS: 38C - 164.60 là 2,30m. Trục sau cách mép chuẩn 3,08m.
Khám nghiệm hiện trường theo chiều xã Ba Trại đi xã Thuần Mỹ, ghi nhận các dấu vết cụ thể như sau:
+ Vết 1: Là các mảnh vỡ nhựa rải rác trên mặt đường. Vết có diện (3,80 x 3,0)m. T vết cách mép chuẩn là 1,70m và cách trục trước xe mô tô BKS: 29V1 - 770.33 là 1,95m.
+ Vết 2. Là vết máu dạng loang trên mặt đường. Vết có diện (0,9 x 0,6)m. T vết cách mép chuẩn là 1,10m và cách T vết 1 là 0,65m.
+ Vết 3: Là vết máu dạng loang trên mặt đường. Vết có diện (0,8 x 0,5)m. T vết cách mép chuẩn là 2,20m và cách T vết 2 là 1,20m.
+ Vết 4. Là vết dầu dạng loang trên mặt đường, vết có diện (0,27 x 0,25)m. T vết cách mép chuẩn 1,85m và cách T vết 3 là 1,43m.
Phương tiện, dấu vết, tài liệu và mẫu vật thu được: Xe ô tô biển kiểm soát: 38C-164.60, màu xanh trắng, loại xe tải có cần cẩu, xe cũ đã qua sử dụng, hư hỏng sau tai nạn; xe mô tô biển kiểm soát: 29V1-770.33, màu đen bạc, loại xe Honda wave, xe cũ đã qua sử dụng, hư hỏng sau tai nạn và các mảnh vỡ trên hiện trường.
Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 giấy phép lái xe số 310110003731 mang tên Lê Hồng T; 01 chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 38-010976 của xe ô tô BKS 38C-164.60 mang tên Nguyễn Văn Lý và 01 giấy chứng nhận kiểm định số 3966726 của xe ô tô BKS 38C-164.60.
*Khám nghiệm phương tiện, giám định dấu vết va chạm.
Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành khám nghiệm dấu vết trên 02 phương tiện:
Xe ô tô BKS: 38C- 164.60:
- Dấu vết phương tiện:
+Mặt ngoài cụm chi tiết khóa thùng xe, phía sau bên trái bám dính một số sợi tóc, tổ chức mô cơ trên diện có kích thước (3x5)cm.
+Mặt ngoài thành thùng phía sau bên trái bám dính chất màu nâu đỏ dạng quệt trượt, bắn đọng trên diện có kích thước (30x25) cm.
+ Mặt ngoài khung kim loại góc bên trái đuôi thùng xe có vùng dấu vết cong vênh, trượt xước mất sơn màu đỏ bám dính vật chất màu xám, trắng trên diện kích thước (22x19)cm.
+ Mặt ngoài khung kim loại treo cụm đèn tín hiệu đuôi xe bên trái có vết quệt trượt mất sơn màu màu đen có kích thước (5x3)cm. Vị trí thấp nhất của vết cách mặt đất là 83cm.
+ Khung treo cụm đèn tín hiệu phía sau bên trái bung rời chốt giữ bên trái, khung bị cong vênh, móp méo, góc bên trái bám dính chi tiết nhựa bị gãy vỡ (dạng ốp nhựa đồng hồ công tơ mét của xe mô tô), bề mặt có nhiều dấu vết quệt trượt mất sơn, mất bụi trên diện kích thước (16x25)cm, chiều hướng từ trên xuống dưới.
+ Mặt bên khung kim loại đuôi thùng xe bên trái có vùng dấu vết trượt xước mất sơn màu đỏ, bám dính vật chất màu xám, trắng, chất màu nâu đỏ trên diện có kích thước (17x22)cm. Chiều hướng của dấu vết từ sau ra trước, vị trí thấp nhất của dấu vết cách mặt đất 79cm.
+ Khung kim loại gắn biển số bị cong vênh, biến dạng, phần bên trái góc dưới bị đẩy cong vào phía trong.
+ Mặt ngoài cạnh dưới khung xát xi bên trái phía sau có vết trượt xước mất sơn, mất kim loại kích thước dài 15cm; rộng nhất 1,3cm, chiều hướng từ sau ra trước. Vị trí thấp nhất của vết cách mặt đất 67,5cm. Tương ứng với vị trí này mặt dưới xát xi có vết trượt xước kim loại kích thước (18x5)cm, chiều hướng dấu vết từ sau ra trước, cuối dấu vết là vị trí chi tiết liên kết khung xát xi trên dưới bị đẩy cong ra phía trước, bề mặt phía sau của chi tiết này có một số dấu vết trượt xước kim loại, nằm rải rác trên diện kích thước (12x0,7)cm.
+ Chắn bùn sau lốp sau bên trái cong vênh móp méo biến dạng, chiều hướng từ sau ra trước, bề mặt ngoài có nhiều dấu vết quệt trượt mất bụi, nằm rải rác trên diện kích thước (40x30)cm.
+ Mặt lăn lốp ngoài phía sau bên trái có vùng dấu vết quệt trượt kích thước (25x15)cm. Vị trí gần nhất của vết cách đỉnh chữ H trong dòng chữ “BFGOODRICH” là 5,5cm theo chiều tịnh tiến bánh xe.
- Kỹ thuật an toàn phương tiện:
+Cụm đèn sau bên trái không hoạt động, đèn tín hiệu chuyển hướng phía trước bên phải không hoạt động.
+Các hệ thống phanh, lái, gạt mưa, còi hoạt động bình thường, các lốp căng hơi, các hệ thống đèn còn lại hoạt động bình thường.
Xe mô tô BKS: 29V1 – 770.33:
- Dấu vết phương tiện:
+ Kích thước xe sau tai nạn (177 x 98 x 50)cm.
+ Khung tay lái phía trước bị đẩy cong toàn bộ ra phía sau. Tay lái bên trái bị gãy ½, mặt trước phần sau tay phanh bên phải có vết trượt xước kim loại bề mặt bám dính chất màu đen, đỏ kích thước (6,5 x 1,2)cm.
+ Mặt ngoài chi tiết kim loại bắt giữ khung đầu xe với ốp nhựa đầu xe có vết trượt xước, lõm kim loại mất sơn màu đen kích thước (2,5 x 1,5)cm.
+ Toàn bộ cụm chi tiết, đồng hồ công tơ mét, hệ thống điều khiển, hệ thống đèn đầu xe gãy vỡ bung rời khỏi xe, một số dây dẫn điện bị đứt rời.
+ Mặt ngoài ốp nhựa đầu xe (mặt nạ), cánh yếm bên phải có vùng dấu vết trượt xước nhựa mất sơn màu đen, bám dính bụi đất trên diện kích thước (26x34)cm.
+ ½ cánh yếm bên phải phía dưới bị gãy vỡ, bung rời khỏi xe, mặt ngoài ½ trên có vết trượt xước nhựa bám dính bụi đất kích thước (31x12)cm.
+ Chắn bùn bánh trước: Phía trước, phía sau bị gãy vỡ. Mặt trên trước chắn bùn phía trước có vùng dấu vết trượt xước nhựa bề mặt bám dính bụi đất, chất màu nâu kích thước (16x14)cm. Chắn bùn sau bị gãy vỡ bung rời khỏi vị trí ban đầu.
+ Vành xe bánh trước bị cong vênh biến dạng, đứt gãy một số nan hoa, cụm mai ơ dây công tơ mét bị rời khỏi vị trí ban đầu.
+ Đầu bàn để chân phía trước bên trái có vết rách thủng cao su, trượt xước kim loại bám dính bụi đất kích thước (3x2,5)cm.
+ Ốp sườn xe bên trái có vết trượt xước nhựa, bề mặt bám dính chất màu trắng kích thước (10x5)cm.”
Ngày 07/3/2025, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Hà Nội ra Quyết định trưng cầu giám định số 3237/QĐ-VPCQCSĐT trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ giám định cơ chế hình thành dấu vết va chạm giữa hai phương tiện nêu trên.
Tại Kết luận giám định số 3370/KL-KTHS ngày 30/5/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ kết luận: “Dấu vết trượt xước kim loại, bề mặt bám dính chất màu đen có chiều hướng từ dưới lên trên, từ trước về sau tại vị trí mặt trước, phần sau tay phanh bên phải xe mô tô biển số 29V1-770.33 (ảnh 11,12 trong bản ảnh giám định) phù hợp với dấu vết trược xước, mất kim loại, mất sơn màu đen, chiều hướng từ sau về trước tại vị trí mặt ngoài, cạnh dưới khung xát xi bên trái phía sau xe ô tô tải biển số 38C-164.60 (ảnh 5,6,13 trong bản ảnh giám định).
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hà Nội đã có văn bản yêu cầu định giá tài sản đối với xe ô tô BKS: 38C-164.60 và xe Honda Wave, BKS: 29V1-770.33 bị hư hỏng.
Tại kết luận định giá tài số 61/HĐ-ĐGTS ngày 20/5/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Ba Vì kết luận: Xe ô tô BKS: 38C-164.60: Phần chắn bùn sau của bánh sau bên trái bị cong vênh có thể sửa chữa, tiền công sửa chữa là 800.000 đồng và phần khung biển số bị cong vênh kim loại có thể sửa, tiền công sửa chữa là 700.000 đồng, tổng thiệt hại giá trị là 1.500.000 đồng.
Tại kết luận định giá tài số 62/HĐ-ĐGTS ngày 20/5/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Ba Vì kết luận: Xe Honda Wave, BKS: 29V1-770.33: Toàn bộ các chi tiết phía trước của xe gồm: khung càng, vành, bánh, ốp nhữa, bảng điều khiển, tay lái bị gãy, vỡ hư hỏng hoàn toàn, không thể sửa chữa, phải thay mới trị giá là 5.000.000 đồng.
* Kết quả Giám định pháp y tử thi:
Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định để giám định pháp y tử thi anh Nguyễn Chung T. Giải thích rõ cho gia đình anh Thành về quyền, nghĩa vụ và yêu cầu gia đình anh Thành cho cơ quan cơ quan cảnh sát điều tra tiến hành pháp y tử thi đối với anh Thành. Tuy nhiên, gia đình anh Thành cương quyết từ chối việc pháp y tử thi anh Thành mà chỉ đồng ý cho khám ngoài tử thi. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản và khám ngoài tử thi theo quy định.
Tại Kết luận giám định tử thi số 309/258/KLGĐTT-TTPY ngày 02/4/2025 của Trung T pháp y thuộc Sở y tế Hà Nội kết luận:
“1. Các kết quả chính:
* Kết quả khám nghiệm:
- Nhiều vết sây sát, bầm tím, rách da vùng đầu, mặt, ngực, bụng, hai tay và hai chân.
- Biến dạng vùng đầu, mặt.
- Rách da vùng đầu lộ xương sọ vỡ và tổ chức não.
- Gãy xương hàm trên và xương hàm dưới.
* Kết quả xét nghiệm, giám định khác:
- Kết luận giám định độc chất:
+ Mẫu máu của nạn nhân Nguyễn Chung T giám định: Có nồng độ Ethanol là 212,80mg/100ml. Không tìm thấy Methanol.
+Mẫu máu của nạn nhân Nguyễn Chung T giám định: Không tìm thấy các chất ma túy kể trên.
2. Kết luận:
Kết luận nguyên nhân chết: Do không mổ tử thi nên không kết luận được nguyên nhân chết. Mẫu máu của nạn nhân có Ethanol, nồng độ 212,80mg/100ml.”
Đối với Trần Văn H, sau khi bị tai nạn đã được đưa đến Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức lúc 02 giờ 50 phút ngày 07/3/2025; ra viện lúc 10 giờ 12 phút ngày 09/4/2025. Chẩn đoán: ĐCT: VTSN: lún sọ, dập não, máu tụ dưới màng cứng trán 2 bên, máu tụ ngoài màng cứng thái dương đỉnh T đã phẫu thuật; gãy xương đùi phải, vỡ xương chậu; CTHM (vỡ xương hàm trên 2 bên, vỡ nhiều xương hàm mặt), CTNK (đụng dập phổi); TD liệt VII ngoại biên trái, CT mặt trái, tăng tiểu cầu; viêm phổi bệnh viện, sốt cao liên tục CRNN.
Cơ quan điều tra đã tiến hành ghi lời khai của Trần Văn H, kết quả: H bị chấn thương sọ não nên chỉ nhớ được buổi tối ngày 06/3/2025 có đi uống rượu cùng với bạn. Tuy nhiên, H vẫn nhớ được khi ra về, Thành điều khiển xe máy chở H. Sau khi ra khỏi quán ăn, cả hai đi hướng về nhà. H không quan sát phía trước nên không biết vụ tai nạn giao thông xảy ra như thế nào. H bị bất tỉnh ngay khi va chạm xảy ra, khi tỉnh dậy H đã ở trong bệnh viện cấp cứu.
Ngày 24/6/2025 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hà Nội đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 4824/QĐ-VPCQCSĐT để giám định thương tích đối với Trần Văn H. Tuy nhiên, anh H cùng gia đình xác định vụ việc tai nạn giao thông là ngoài ý muốn. Anh Thành là người điều khiển xe mô tô đã tử vong. Sau khi sự việc xảy ra Lê Hồng T đã đến thăm hỏi, động viên anh H. Do đó, anh H và gia đình không yêu cầu xử lý T về hình sự và không yêu cầu đề nghị gì về dân sự. Ngày 12/7/2025 cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Hà Nội ra quyết định dẫn giải Trần Văn H đến Trung T pháp y Hà Nội để giám định thương tích nhưng anh H đã có đơn xin từ chối giám định thương tích.
-Kết quả giám định máu của Lê Hồng T:
Ngày 07/3/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra tiến hành thu giữ mẫu máu của Lê Hồng T và ra Quyết định trưng cầu giám định để xác định nồng độ cồn, ma túy. Tại Bản kết luận giám định độc chất số 214/2025/KLGĐĐC-TTPY ngày 20/3/2025 của Trung T pháp y Hà Nội kết luận: Mẫu máu vụ Lê Hồng T giám định: Không tìm thấy Ethanol, Methanol. Không tìm thấy các chất ma túy kể trên.
-Kết quả rà soát camera, thu giữ video:
Tiến hành rà soát camera tại hiện trường. Kết quả: Thu thập được 01 đoạn video được trích xuất từ camera an ninh của người dân xung quanh ghi lại được hình ảnh vụ tai nạn giao thông. Cụ thể:
Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 06/3/2025, camera ghi lại được hình ảnh chiếc xe ô tô tải (loại xe tải cẩu) di chuyển trên đường tỉnh lộ 412 hướng Ba Trại đi Thuần Mỹ. Khi đi đến trước cửa quán ăn, chiếc xe ô tô tải được dừng đỗ ở vị trí sát mép phải đường. Tại thời điểm xe vào vị trí đỗ thì phía sau đuôi xe có một số xe ô tô đã được đỗ từ trước.
Khoảng 21 giờ 15 phút cùng ngày, chiếc xe ô tô tải nêu trên vẫn được đỗ ở vị trí ban đầu, những chiếc xe ô tô phía đỗ phía sau đã di chuyển. Camera ghi lại được hình ảnh vụ tai nạn giao thông xảy ra. Tại thời điểm xảy ra tai nạn, chiếc xe ô tô tải không bật đèn cảnh báo. Nguyễn Chung T điều khiển xe mô tô BKS: 29V1
- 770 di chuyển trên đường tỉnh lộ 414C theo hướng Ba Trại đi Thuần Mỹ đã va chạm với phần đuôi xe bên trái của chiếc xe ô tô tải BKS: 38C - 164.60 gây ra hậu quả Thành tử vong.
-Xác minh nguồn gốc phương tiện và tạm giữ tài sản, xử lý vật chứng:
Đã tiến hành xác minh nguồn gốc của phương tiện, kết quả:
Chiếc xe mô tô mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 29V1-770.33 đứng tên chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1955; trú tại: thôn 6, xã Bất B, thành phố Hà Nội. Năm 2022, bà Huệ cho cháu ngoại là chị Đặng Thị Bích T, sinh năm 2003; trú tại: thôn 5, xã Bất B, thành phố Hà Nội để làm phương tiện đi lại. Tuy nhiên, cả hai không làm thủ tục sang tên chủ sở hữu. Từ đó đến nay, chiếc xe này vẫn được chị T và chồng là Nguyễn Chung T sử dụng làm phương tiện di chuyển hàng ngày. Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 06/3/2025, Thành tự lấy xe đi ăn với bạn và xảy ra tai nạn giao thông như nêu trên.
Chiếc xe ô tô BKS: 38C-164.60 là xe của anh Vương Văn P, sinh năm 1968; trú tại: thôn Thượng Cốc, xã Phúc Thọ, thành phố Hà Nội và của anh Nguyễn Minh T, sinh năm 1984; Địa chỉ: Thôn An Hòa, xã Suối Hai, thành phố Hà Nội. Ngày 06/3/2025, T được anh P và anh T giao chiếc xe ô tô mang đi bảo dưỡng, đã xảy ra vụ tai nạn.
Cơ quan điều tra đã tiến hành tra cứu vật chứng, kết quả cả hai phương tiện không phải là vật chứng của vụ án khác.
Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu đối với 02 phương tiện nêu trên bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu.
- Về dân sự:
+ Đối với gia đình anh Nguyễn Chung T: Lê Hồng T đã tự nguyện bồi thường dân sự cho gia đình anh Thành số tiền 30.000.000 đồng. Gia đình anh Thành không có yêu cầu, đề nghị gì về dân sự và có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho Lê Hồng T.
+ Đối với anh Trần Văn H: Sau khi sự việc xảy ra, T đã đến hỏi thăm sức khỏe của H. Anh H cùng gia đình xác định vụ việc tai nạn là ngoài ý muốn, không có yêu cầu, đề nghị gì về dân sự. Anh H đã có đơn xin từ chối giám định thương tích và có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho Lê Hồng T.
+ Chị Đặng Thị Bích T đã nhận lại chiếc xe máy Honda Wave, BKS: 29V1-770.33 và các mảnh vỡ của xe, không yêu cầu đề nghị gì về bồi thường dân sự. Anh Vương Văn P và anh Nguyễn Minh T đã nhận lại xe ô tô BKS: 38C-164.60, không yêu cầu đề nghị gì về bồi thường dân sự.
+ Đối với 01 giấy phép lái xe số 310110003731 mang tên Lê Hồng T; 01 chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 38-010976 của xe ô tô BKS 38C-164.60 mang tên Nguyễn Văn Lý và 01 giấy chứng nhận kiểm định số 3966726 của xe ô tô BKS 38C-164.60 thu giữ của Lê Hồng T. Quá trình điều tra xác định chiếc giấy phép lái xe trên là tài sản hợp pháp của Lê Hồng T nên cơ quan điều tra đã trả lại cho T. Đối với 01 chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 38-010976 của xe ô tô BKS 38C-164.60 mang tên Nguyễn Văn Lý và 01 giấy chứng nhận kiểm định số 3966726 của xe ô tô BKS 38C-164.60 mà T giao nộp, quá trình điều tra xác định là của anh Vương Văn P, cơ quan điều tra đã trả anh P.
Bản Cáo trạng số 72/CT-VKS ngày 12 tháng 11 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Hà Nội truy tố Lê Hồng T về tội “Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Hồng T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung nêu trên. Bị cáo trình bày bản thân đã nhận thức hành vi của mình là sai pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Anh Nguyễn Minh T trình bày đã nhận lại chiếc xe ô tô BKS 38C-164.60 mà anh mua chung với anh P, anh không yêu cầu T bồi thường gì về dân sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Hà Nội tại phiên tòa, giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Lê Hồng T về tội “Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thành phố Hà Nội, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo Lê Hồng T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, được chứng minh bằng lời khai của bị hại anh Trần Văn H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 06/3/2025, Lê Hồng T điều khiển chiếc xe ô tô tải (loại xe tải cẩu) BKS: 38C-164.60 di chuyển trên đường tỉnh lộ 412 hướng Ba Trại đi Thuần Mỹ đến quán ăn biển hiệu Cường Thịnh (nằm ở bên phải đường theo hướng di chuyển) thì dừng lại và đỗ xe ô tô để vào bên trong quán ăn. Khoảng 21 giờ 15 phút ngày 06/3/2025 Nguyễn Chung T và Trần Văn H sau khi cùng nhóm bạn uống rượu tại quán ăn nhà “Mạnh Hà” ở thôn 6, xã Bất B, thành phố Hà Nội xong thì Thành điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 29V1-770.33 chở theo H đi từ quán ăn theo đường tỉnh lộ 414C để về nhà. Khi đang di chuyển trên đường, do thiếu chú ý quan sát nên phần đầu xe mô tô do T điều khiển đã đâm vào phần đuôi xe bên trái của chiếc xe ô tô tải BKS: 38C-164.60 của Lê Hồng T đang đỗ bên phải đường cùng chiều xe mô tô di chuyển. Hậu quả: Anh Nguyễn Chung T bị thương nặng được đưa đi cấp cứu nhưng do vết thương quá nặng nên đã tử vong. Anh Trần Văn H bị chấn thương sọ não, được điều trị đến nay sức khỏe đã một phần ổn định. Anh H từ chối giám định thương tích. Hành vi nêu trên của Lê Hồng T đã vi phạm khoản 3 Điều 18 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2025) qui định về dừng, đỗ xe: “3. Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ khi dừng xe, đỗ xe trên đường phải thực hiện các quy định sau đây:
a) Có tín hiệu báo cho người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ khác biết khi ra, vào vị trí dừng xe, đỗ xe;
b) Không làm ảnh hưởng đến người đi bộ và các phương tiện tham gia giao thông đường bộ” dẫn đến hậu quả làm chết một người nên Lê Hồng T đã phạm vào tội “Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Do đó, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Hà Nội truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, làm thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe của người khác, gây đau thương mất mát cho gia đình bị hại. Vì vậy, phải xử phạt T mức hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi mà bị cáo đã gây ra, để cải tạo giáo dục bị cáo thành người tốt và phòng ngừa vi phạm an toàn giao thông.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người đại diện cho bị hại là ông Nguyễn Văn C, bà Lê Thị K và bị hại anh Trần Văn H có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo phạm tội lần đầu; chưa có tiền án, tiền sự; trong vụ án này bị hại anh Nguyễn Chung T cũng có lỗi một phần là điều khiển xe mô tô thiếu chú ý quan sát, trong máu có nồng độ cồn (vi phạm khoản 3 Điều 12; khoản 2 Điều 9 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024). Do vậy, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm cho bị cáo một phần hình phạt. Xét bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có các tình tiết giảm nhẹ nêu trên, nên cần áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền nơi bị cáo cư trú cũng có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Đối với hành vi của Lê Hồng T đỗ xe gây ra tai nạn làm cho anh Trần Văn H bị thương phải đi điều trị tại bệnh viện. Cơ quan điều tra đã ban hành quyết định trưng cầu giám định để giám định thương tích đối với Trần Văn H. Tuy nhiên, anh H và gia đình xác định tai nạn giao thông là ngoài ý muốn. Sau khi sự việc xảy ra, anh T đã đến động viên, thăm hỏi. Anh H và gia đình có đơn từ chối giám định thương tích. Do vậy, không có căn cứ xác định thương tích của anh H là bao nhiêu nên không có căn cứ xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Lê Hồng T đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bà Lê Thị K số tiền 30.000.000 đồng. Đại diện hợp pháp của bị hại anh Nguyễn Chung T không đề nghị bị cáo bồi thường thêm. Anh Trần Văn H không yêu cầu bị cáo Lê Hồng T bồi thường gì về dân sự. Xét thỏa thuận của các bên là tự nguyện, không trái pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự , ngoài hình phạt chính còn quy định hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định. Xét bị cáo là lao động tự do, không có chức vụ, nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 29V1-770.33 và mảnh vỡ của xe, quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là của chị Đặng Thị Bích T. Sau tai nạn, chiếc xe trên bị hư hỏng, kết quả định giá tài sản xác định thiệt hại giá trị 5.000.000 đồng. Chị T không yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị chiếc xe bị thiệt hại và có nguyện vọng nhận lại chiếc xe trên và các mảnh vỡ của xe nên cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô trên và các mảnh vỡ của xe cho chị Đặng Thị Bích T là có căn cứ.
Đối với chiếc xe ô tô BKS: 38C-164.60, chiếc xe ô tô này là xe do anh Vương Văn P và anh Nguyễn Minh T chung tiền mua. Ngày 06/3/2025, bị cáo được anh P và anh T giao chiếc xe ô tô mang đi bảo dưỡng, xảy ra tai nạn. Sau khi xảy ra tai nạn, chiếc xe bị hư hỏng phần đuôi thùng xe, kết quả định giá tài sản xác định thiệt hại giá trị 1.500.000 đồng. Anh P và anh T không yêu cầu T bồi thường thiệt hại và có nguyện vọng nhận lại chiếc xe trên nên cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho chủ sở hữu là đúng pháp luật.
Đối với 01 giấy phép lái xe số 310110003731 mang tên Lê Hồng T; 01 chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 38-010976 của xe ô tô BKS 38C-164.60 mang tên Nguyễn Văn Lý và 01 giấy chứng nhận kiểm định số 3966726 của xe ô tô BKS 38C-164.60 thu giữ của Lê Hồng T. Quá trình điều tra xác định chiếc giấy phép lái xe trên là tài sản hợp pháp của T nên cơ quan điều tra đã trả lại cho T là có căn cứ. Đối với 01 chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 38-010976 của xe ô tô BKS 38C-164.60 mang tên Nguyễn Văn Lý và 01 giấy chứng nhận kiểm định số 3966726 của xe ô tô BKS 38C-164.60, quá trình điều tra xác định ông Nguyễn Văn Lý đã bán chiếc xe ô tô BKS 38C-164.60 cho anh Vương Văn P nên cơ quan điều tra đã trả các giấy tờ trên cho anh P là đúng pháp luật.
Án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo Lê Hồng T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo, bị hại anh Trần Văn H, người đại diện hợp pháp của anh Nguyễn Chung T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Lê Hồng T phạm tội “Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ”.
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lê Hồng T 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lê Hồng T cho Ủy ban nhân dân xã Phụng Công, tỉnh Hưng Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo
2. Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Lê Hồng T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo Lê Hồng T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị hại anh Trần Văn H, người đại diện hợp pháp của anh Nguyễn Chung T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo về những vấn đề liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo về những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND Thành phố Hà Nội;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND Khu vực 9 - Hà Nội;
- CQTHAHS có thẩm quyền;
- THADS TP Hà Nội;
- Bị cáo; bị hại; Người đại diện hợp pháp của bị hại;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
- Lưu hồ sơ vụ án
Đặng Thị Dung THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Hà Nội; - VKSND Khu vực 9 - Hà Nội; - CQTHAHS có thẩm quyền; - CCTHADS Khu vực 9 – Hà Nội; - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Dung |