vanban.org

Bản án 182/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hoàng Thị L được ly hôn anh Hoàng Văn Đ.

Về nuôi con chung: Không xem xét. Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Thị L kiện xin ly hôn Hoàng Văn Đ"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hoàng Thị L được ly hôn anh Hoàng Văn Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 153 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 182/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 29 - 9 - 2025
V/v: “Ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Minh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Nam Long.

Bà Châu Thị Định.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Tiến Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sáng - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2025, tại hội trường xét xử Dân sự, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số: 124/2025/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2025 về việc “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 155/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 167/2025/QĐST – HNGĐ ngày 11 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị L, sinh ngày 20/4/1986; số định danh cá nhân: xxxxxxxxxxxx; nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố X, phường B, tỉnh Quảng Trị (phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình cũ); địa chỉ báo tin: Cửa hàng S, thôn T, xã B, tỉnh Quảng Trị. Chị L có mặt.

- Bị đơn: Anh Hoàng Văn Đ, sinh ngày 19/5/1983; số định danh cá nhân: xxxxxxxxxxxx; nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố X, phường B, tỉnh Quảng Trị (phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình cũ); hiện đã xuất cảnh sang Hàn Quốc, không có địa chỉ cụ thể. Anh Đ vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn, bản tự khai, tại phiên toà nguyên đơn chị Hoàng Thị L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hoàng Văn Đ kết hôn tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình (nay là xã N, tỉnh Quảng Trị) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 06, ngày 05 tháng 02 năm 2004. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau được một khoảng thời gian, do kinh tế gia đình khó khăn nên khoảng thời gian từ năm 2013 đến năm 2014, anh Hoàng Văn Đ làm thủ tục đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc. Sau khi xuất cảnh và làm việc tại nước ngoài, giữa hai vợ chồng ít liên lạc, nói chuyện với nhau, hai bên không còn quan tâm đến nhau nên tình cảm ngày càng phai nhạt dần, đến năm 2020 thì hai vợ chồng không liên lạc với nhau nữa. Trước đó, khi hai vợ chồng liên lạc với nhau thì thường xuyên cãi vã, không cùng quan điểm về chuyện tiền bạc, hai bên đã cố gắng hòa giải nhưng mâu thuẫn giữa hai vợ chồng vẫn không khắc phục được. Do tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, không còn yêu thương nhau nữa, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị L đã làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình (nay là Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị) giải quyết cho chị được ly hôn anh Hoàng Văn Đ.

Về nuôi con chung: Quá trình chung sống, chị Hoàng Thị L và anh Hoàng Văn Đ có 01 con chung tên là Hoàng Văn L1, sinh ngày: 31/12/2004, hiện tại con chung đã trên 18 tuổi, nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về chia tài sản chung, nợ chung: Chị Hoàng Thị L trình bày chị và anh Hoàng Văn Đ không có tài sản chung, nợ chung, nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về phía bị đơn anh Hoàng Văn Đ: Sau khi thụ lý vụ án, Toà án nhân dân tỉnh Quảng Trị đã thực hiện việc xác minh thông tin qua Phòng Quản lý xuất nhập cảnh, Công an tỉnh Q (nay là Công an tỉnh Q); xác minh thông tin từ bà Nguyễn Thị C (mẹ đẻ của anh Đ) và tiến hành niêm yết công khai văn bản tố tụng tại nơi cư trú cuối cùng của bị đơn anh Hoàng Văn Đ.

Tại Biên bản lấy lời khai ngày 23/6/2025 của bà Nguyễn Thị C (mẹ đẻ của anh Hoàng Văn Đ): Bà C xác nhận hiện tại anh Đ đã xuất cảnh sang Hàn Quốc tuy nhiên bà C không biết địa chỉ cụ thể, anh Đ đã lâu không liên lạc về với bà C cũng như gia đình. Việc chị L làm đơn xin ly hôn con trai bà (anh Hoàng Văn Đ) thì bà không có ý kiến gì, tùy vào anh Đ và chị L. Về con chung, anh Đ và chị L có 01 con chung tên Hoàng Văn L1, hiện đã đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc; về tài sản chung, nợ chung của anh Đ và chị L thì bà C không biết.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị về việc giải quyết vụ án:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc tiến hành các thủ tục tố tụng trong vụ án, quá trình thu thập chứng cứ, các đương sự tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật, đảm bảo quyền lợi, nghĩa vụ của họ.

- Về nội dung: Đề nghị áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, xử: Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hoàng Thị L được ly hôn anh Hoàng Văn Đ; về nuôi con chung: Con chung Hoàng Văn L1 sinh ngày 31/12/2004, hiện nay đã trưởng thành trên 18 tuổi, chị L không yêu cầu Toà án giải quyết, nên không xem xét; về chia tài sản chung, nợ chung của vợ chồng do đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Buộc đương sự chịu án phí và chi phí tố tụng theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án; lời trình bày của đương sự đã được thẩm tra; kết quả tranh luận và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

. Theo Công văn số: 1461/CV-PA08 ngày 30/5/2025 của Phòng Q, Công an tỉnh Q (nay là Công an tỉnh Q) thì anh Hoàng Văn Đ đã xuất cảnh rời Việt Nam ngày 31/01/2020 qua Sân bay quốc tế Đà Nẵng, chưa có thông tin nhập cảnh trở lại và qua lời khai của bà Nguyễn Thị C (là mẹ đẻ của bị đơn) thì tại thời điểm thụ lý đơn khởi kiện của chị Hoàng Thị L, anh Đ đang ở nước ngoài. Vụ án được thụ lý trước ngày 01/7/2025, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị thụ lý giải quyết vụ án là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm d khoản 1 Điều 469 Bộ luật tố tụng dân sự.

. Do không xác định được địa chỉ cụ thể của bị đơn anh Hoàng Văn Đ ở nước ngoài nên Tòa án đã thực hiện việc niêm yết văn bản tố tụng tại nơi cư trú cuối cùng của anh Đ trước khi xuất cảnh; xác minh người thân và tiến hành giao các văn bản tố tụng cho người thân của bị đơn. Toà án đăng tin thông báo cho anh Hoàng Văn Đ trên Hệ thống phát thanh của ban Đối ngoại VOV5 vào các ngày 21, 22, 23/7/2025 nhằm thông báo cho bị đơn biết việc nguyên đơn yêu cầu xin ly hôn nhưng phía bị đơn anh Hoàng Văn Đ không có phản hồi.

. Tòa án đã tiến hành các thủ tục cần thiết, ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử và triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa đối với các đương sự nhưng anh Hoàng Văn Đ đều vắng mặt. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228; điểm b khoản 5 Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Đ.

. Về nội dung:

. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị L và anh Hoàng Văn Đ đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình (nay là xã N, tỉnh Quảng Trị) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 06, ngày 05 /02/2004 nên là hôn nhân hợp pháp. Lẽ ra sau khi kết hôn, anh chị phải biết cùng nhau giữ gìn, vun vén hạnh phúc gia đình tuy nhiên, theo chị L trình bày: Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau được một khoảng thời gian ngắn, do kinh tế gia đình khó khăn nên năm 2013 anh Hoàng Văn Đ làm thủ tục đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc. Sau khi xuất cảnh và làm việc tại nước ngoài, giữa hai vợ chồng ít liên lạc, nói chuyện với nhau, hai bên không còn quan tâm đến nhau nên tình cảm ngày càng phai nhạt dần. Khi hai vợ chồng liên lạc với nhau thì thường xuyên cãi vã, không cùng quan điểm về chuyện tiền bạc, hai bên đã cố gắng hòa giải nhưng mâu thuẫn giữa hai vợ chồng vẫn không khắc phục được. Hiện tại, anh Hoàng Văn Đ không còn liên lạc với chị Hoàng Thị L, với gia đình cũng như người thân, xét thấy tình cảm vợ chồng không còn yêu thương nhau nữa, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của chị L để xử cho chị Hoàng Thị L được ly hôn anh Hoàng Văn Đ là phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

. Về nuôi con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên là Hoàng Văn L1, sinh ngày 31/12/2004, hiện tại con chung đã trưởng thành trên 18 tuổi, chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Hoàng Thị L trình bày vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí sơ thẩm và chi phí tố tụng: Chị Hoàng Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và chi phí thông báo qua kênh dành cho người nước ngoài VOV5 theo quy định.

. Về quyền kháng cáo: Chị Hoàng Thị L và anh Hoàng Văn Đ có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 điều 35; điểm b khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 3 Điều 153; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 464; Điều 469; Điều 474; Điều 475; điểm b, c khoản 5 Điều 477; Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBNTVQH ngày 30/12/2016 của Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hoàng Thị L được ly hôn anh Hoàng Văn Đ.

2. Về nuôi con chung: Không xem xét.

3. Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.

4. Về án phí, chi phí tố tụng trong vụ án: Chị Hoàng Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp tại biên lai số: 0005406 ngày 14/5/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị). Chị L phải chịu chi phí thông báo qua kênh dành cho người nước ngoài VOV5 số tiền 2.250.000 đồng. Chị L đã nộp đủ tiền án phí, chi phí tố tụng trong vụ án.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Hoàng Thị L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Anh Hoàng Văn Đ vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định.

Cỡ chữ