vanban.org

Bản án 182/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình Tuyên án 06/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Văn H 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 30/8/2022. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 182/2022/HS-ST
Ngày 06/12/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Chu Thị Tuyết.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vũ Tiến Thịnh;

2. Bà Chu Thị Hồng Nhật.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Khánh Linh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Bình tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 155/2022/HSST ngày 27 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 158/2022/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2022 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 32/TB-TA ngày 15 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo: Bùi Văn H, sinh ngày 21/02/1974 tại: T. Nơi cư trú: Thôn D 3, xã M, huyện K, tỉnh T. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Bùi Trung H1 và bà Phạm Thị K1; vợ: Bùi Thị L; con: Có 02 con; tiền sự: Không; tiền án: Bản án số 21/2020/HSST ngày 20/5/2020 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh T xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (tàng trữ khối lượng 0,0327 gam ma túy, loại Heroine, Bản án số 14 và số 11 là tình tiết định tội thuộc trường hợp điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự). Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 02/01/2020. Chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 13/8/2020. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/4/2021; nhân thân: Bản án số 14/2006/HSST ngày 11/01/2006 của Tòa án nhân dân tỉnh B xử phạt Bùi Văn H 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày 05/7/2006. Chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 19/5/2006. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/4/2012. Bản án số 11/2015/HSST ngày 18/3/2015 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh T xử phạt 03 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày 16/12/2014. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/5/2017. Chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 13/3/2019, chấp hành xong hình phạt bổ sung ngày 06/01/2020. Tham gia nghĩa vụ quân sự từ tháng 3/1996 đến tháng 3/1998 xuất ngũ; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/8/2022 đến ngày 02/9/2022 chuyển tạm giam đến nay.

* Người chứng kiến:

- Anh Phạm Ngọc B1, sinh năm 1965; trú tại: Thôn T1, xã V, thành phố T, tỉnh T.

- Anh Dương Ngọc H2, sinh năm 1985; trú tại: Tổ 5, phường B2, thành phố T, tỉnh T.

(Tại phiên tòa có mặt bị cáo, vắng mặt anh B1, anh H2).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 15 phút ngày 30/8/2022 Bùi Văn H đi xe ôm của một người không quen biết từ nhà đến khu vực đường P, tổ 05, phường Q, thành phố T gặp và mua của một người nam giới không biết tên, tuổi và địa chỉ 200.000 đồng được 01 gói ma túy rồi H đi tìm nơi để sử dụng. Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày khi H đi đến khu vực ngã tư đường L1 giao đường tránh S2 thuộc thôn T2, xã V, thành phố T thì bị tổ công tác của Công an thành phố Thái Bình phát hiện và yêu cầu cho kiểm tra. Trước sự chứng kiến của anh Phạm Ngọc B1 và anh Dương Ngọc H2, H tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 gói và khai nhận là Heroine, H vừa mua để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác quản lý của H 01 điện thoại Samsung màu xanh, 01 ví giả da màu nâu bên trong có 01 căn cước công dân mang tên Bùi Văn H và số tiền 20.000 đồng.

Kết luận giám định số 331/KL-KTHS(MT) ngày 31/8/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình, kết luận: Mẫu vật quản lý của Bùi Văn H gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,1968 gam.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi của mình như bản cáo trạng đã nêu.

Bản cáo trạng số 172/CT-VKSTPTB ngày 26/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử:

* Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị: Xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 30/8/2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số Heroine còn lại sau giám định. Trả lại bị cáo chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung màu xanh, 01 ví giả da màu nâu, 01 căn cước công dân mang tên Bùi Văn H và số tiền 20.000 đồng nhưng tiếp tục quản lý chiếc điện thoại và số tiền 20.000 đồng để đảm bảo thi hành án.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo không bào chữa và không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố vụ án được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục nên các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án này là hợp pháp.

Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được chứng minh bằng:

Biên bản bắt người phạm tội quả. Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ. Kết luận giám định số 331/KL-KTHS(MT) ngày 31/8/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình. Biên bản ghi lời khai của những người chứng kiến. Các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 11 giờ 30 phút 30/8/2022 tại khu vực ngã tư đường L1 giao đường tránh S2 thuộc thôn T2, xã V, thành phố T, tỉnh T, Bùi Văn H có hành vi tàng trữ trái phép 0,1968 gam ma túy, loại Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân, đã bị tổ công tác Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình phát hiện bắt quả tang.

Như vậy hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

...

Về tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có nhân thân xấu, có 01 tiền án nên phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự, bố bị cáo là thương binh hạng 4/4, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến, mẹ bị cáo được Nhà nước tặng Huy chương kháng chiến, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt:

Hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cần thiết phải xử phạt mức hình phạt nghiêm minh với hành vi phạm tội của bị cáo, cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

Hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ lượng ma túy ít, để sử dụng, không nhằm mục đích kiếm lời, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình là phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử cần xem xét khi quyết định hình phạt.

Về vật chứng của vụ án:

- Số Heroine còn lại sau giám định là 0,1535 gam thu giữ của bị cáo, đây là vật thuộc loại nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.

- Chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung màu xanh, 01 ví giả da màu nâu, 01 căn cước công dân mang tên Bùi Văn H và số tiền 20.000 không liên quan đến hành vi phạm tội, trả lại cho bị cáo.

Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo khai mua của người nam giới không biết tên, tuổi và địa chỉ tại khu vực đường P, tổ 05, phường Q, thành phố T, tỉnh T nên cơ quan Điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự;

- Căn cứ Điều 106, Điều 135, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

- Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Văn H 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 30/8/2022.

3. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy số Heroine còn lại sau giám định là 0,1535 gam trong phong bì niêm phong số 331/KLKTHS (MT) ngày 31/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.

- Trả lại bị cáo chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung màu xanh, 01 ví giả da màu nâu, 01 căn cước công dân mang tên Bùi Văn H và số tiền 20.000 đồng.

(Vật chứng Công an thành phố Thái Bình đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình ngày 27/10/2022).

4. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 06/12/2022)./.

Cỡ chữ