vanban.org

Bản án 182/2021/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Ngô Quyền, TP. Hải Phòng Tuyên án 16/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 bì giấy dấu niêm phong số 370MT-A/PC09 và 01 bao nilon màu xanh niêm phong số 370MT-B/PC09 bên trong gồm chất ma túy và vỏ bao bì hoàn lại sau giám định; Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 06 đèn chiếu sáng (trong đó có 03 đèn hình chữ nhật kích thước khoảng 20x30 cm, 02 đèn hình… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "C - Mua bán ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NGÔ QUYỀN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 182/2021/HS-ST
Ngày 16-11-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Hà Thị Mão

Bà Phạm Thị Bấm

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Diệu Hương - Thư ký Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Tô Thị Hoài Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 175/2021/TLST-HS ngày 20 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 193/2021/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn C, sinh ngày 19 tháng 5 năm 1979 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số 8/35/159 đường Đ, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Ch và bà Phạm Thị L (đã chết); có vợ (không có đăng ký kết hôn) là Nguyễn Thị Phương N và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 08/6/2021, đến ngày 15/6/2021 chuyển tạm giam; có mặt.

- Người làm chứng:

1. Anh Vũ Trọng D; vắng mặt.

2. Nguyễn Trọng T; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 07/6/2021, Công an quận Ngô Quyền bắt quả tang Nguyễn Văn C có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý tại khu vực trước cửa số 40 đường L, phường L, quận N, thành phố Hải Phòng. Vật chứng thu giữ: Thu giữ trong người của C 01 túi nilon màu đen, kích thước khoảng 5x20 cm, bên trong chứa thảo mộc khô vụn (niêm phong mẫu số 01); 01 điện thoại di động Oppo màu đỏ đã qua sử dụng; 01 xe mô tô Yamaha màu đen bạc, BKS 84K3-1358.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn C ở số 8/35/159 đường Đ, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng, Cơ quan điều tra thu giữ tại phòng tầng 2:

- 01 túi nilon kích thước khoảng 15x20 cm, bên trong chứa thảo mộc khô vụn và 01 hộp nhựa hình tròn cao 15 cm, đường kính khoảng 08 cm, bên trong chứa thảo mộc khô vụn (niêm phong mẫu số 02).

- 133 cây thực vật tươi thân nhỏ, lá kim, mép lá hình răng cưa, lá xanh đậm (niêm phong mẫu số 03)

- 06 đèn chiếu sáng, trong đó có 03 đèn hình chữ nhật kích thước khoảng 20x30 cm, 02 đèn hình chữ nhật kích thước khoảng 30x40 cm và 01 đèn hình tròn đường kính khoảng 25 cm; 01 cân tiểu ly; 02 nhiệt kế.

Kết luận giám định số 370/KLGĐ-MT ngày 11/6/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Hải Phòng, kết luận:

- Thảo mộc khô, vụn của mẫu số 01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 61,49 gam, là loại Cần sa.

- Thảo mộc khô, vụn của mẫu số 02 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 22,56 gam, là loại Cần sa.

- 133 cây thực vật xanh của mẫu số 03 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1700 gam, là loại Cần sa.

Quá trình điều tra Nguyễn Văn C, khai nhận: Do hoàn cảnh khó khăn, C nảy sinh ý định mua hạt giống cây Cần sa về trồng tại nhà để bán lại kiếm lời. Khoảng tháng 10/2020, C gặp và mua của một người đàn ông không quen biết tên là Meo 05 hạt giống cây Cần sa với giá 1.000.000 đồng và mang về nhà trồng nhưng bị chết hết. Đến khoảng tháng 11/2020, C tiếp tục mua của Meo 05 hạt giống cây Cần sa với giá 1.050.000 đồng về trồng được 02 cây. Sau đó, Cường chiết ra được tổng số 133 cây Cần sa. Khi cây lớn, C thu hoạch Cần sa, đem phơi khô và bán cho khách. Khoảng cuối tháng 03/2021, C đã bán cho Vũ Trọng D, sinh 1993; nơi cư trú: Số 9/172 đường Đ, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng 01 túi ma túy Cần sa kích thước khoảng 12x12 cm. C và D thỏa thuận mua bán túi ma túy Cần sa với giá 5.000.000 đồng và D mang về nhà sử dụng nếu chất lượng tốt thì sẽ trả tiền cho C sau. Sau đó, D mang Cần sa về nhà sử dụng nhưng thấy chất lượng không tốt nên D đã trả lại số ma túy Cần sa này cho C. Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 07/6/2021, Nguyễn Trọng T, sinh 1976; nơi cư trú: Số 122A khu công nhân tập thể CII, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng gọi điện thoại cho C và hỏi mua 15.000.000 đồng ma túy Cần sa. C đồng ý và hẹn đến khu vực chợ V, quận N, thành phố Hải Phòng để giao dịch mua bán ma túy. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, khi C đang điều khiển xe mô tô Yamaha màu đen bạc, BKS 84K3-1358 đi đến khu vực trước cửa số 40 đường L, phường L, quận N, thành phố Hải Phòng để bán ma túy cho T thì bị Công an quận Ngô Quyền bắt quả tang cùng vật chứng. Nguyễn Trọng T đứng gần đó nên được Công an quận Ngô Quyền mời về trụ sở làm người chứng kiến. Tại Cơ quan Công an T đã khai nhận toàn bộ hành vi mua bán ma túy với C như nội dung đã nêu trên. Cơ quan điều tra thu giữ của T 01 điện thoại di động Nokia màu đen đã qua sử dụng.

Về dân sự và vật chứng vụ án:

- 01 xe mô tô Yamaha màu đen bạc, BKS 84K3-1358 quá trình điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp là anh Trương Đình L, sinh 1987; nơi ĐKHKTT: Ấp 1 P, C, T. Anh L cho C mượn xe nhưng không biết việc C mượn để sử dụng vào việc mua bán trái phép chất ma tuý nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ngô Quyền đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô trên cho anh L.

- 01 bì giấy niêm phong số 370MT-A/PC09 và 01 bao nilon màu xanh niêm phong số 370MT-B/PC09 bên trong gồm chất ma tuý và vỏ bao bì hoàn lại sau giám định; 06 đèn chiếu sáng, trong đó có 03 đèn hình chữ nhật kích thước khoảng 20x30 cm, 02 đèn hình chữ nhật kích thước khoảng 30x40 cm và 01 đèn hình tròn đường kính khoảng 25 cm; 01 cân tiểu ly; 02 nhiệt kế; 01 điện thoại di động Oppo màu đỏ đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động Nokia màu đen đã qua sử dụng cần chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền quản lý.

Tại Cáo trạng số 173/CT-VKSNQ ngày 19/10/2021, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng truy tố Nguyễn Văn C về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn C khai nhận hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền truy tố. Bị cáo C nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xử mức án thấp nhất.

Kiểm sát viên tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn C về tội danh, điều luật áp dụng như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự tuyên phạt: Bị cáo Nguyễn Văn C từ 07 năm tù đến 08 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo không có tài sản và thu nhập ổn định nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bì giấy niêm phong số 370MT-A/PC09 và 01 bao nilon màu xanh niêm phong số 370MT-B/PC09 bên trong gồm chất ma tuý còn lại sau giám định; tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 06 đèn chiếu sáng (trong đó có 03 đèn hình chữ nhật kích thước khoảng 20x30 cm, 02 đèn hình chữ nhật kích thước khoảng 30x40 cm và 01 đèn hình tròn đường kính khoảng 25 cm); 01 cân tiểu ly; 02 nhiệt kế; 01 điện thoại di động Oppo màu đỏ; 01 điện thoại di động Nokia màu đen. Về án phí: Bị cáo Cường phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử:

Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn C không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về chứng cứ xác định bị cáo có tội:

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn C khai nhận phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ được, Kết luận giám định số 370/KLGĐ-MT ngày 11/6/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng và các tài liệu điều tra khác được Cơ quan điều tra thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với sự thật khách quan, đủ cơ sở kết luận:

Cuối tháng 3/2021, Nguyễn Văn C đã bán cho Vũ Trọng D 01 túi ma tuý Cần sa và khoảng 23 giờ ngày 07/6/2021, C đã cất giấu trái phép 61,49 gam Cần sa đang trên đường đi bán số ma tuý này cho Nguyễn Trọng T thì bị bắt quả tang. Đồng thời, C còn cất giấu trái phép 1.722,56 gam Cần sa cũng nhằm mục đích để bán kiếm lời.

Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Nguyễn Văn C không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo C thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt bổ sung:

Bị cáo Nguyễn Văn C không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập và tài sản nên Hội đồng xét xử miễn áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 bì giấy dấu niêm phong số 370MT-A/PC09 và 01 bao nilon màu xanh niêm phong số 370MT-B/PC09 bên trong gồm chất ma túy và vỏ bao bì hoàn lại sau giám định. Xét đây là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 06 đèn chiếu sáng (trong đó có 03 đèn hình chữ nhật kích thước khoảng 20x30 cm, 02 đèn hình chữ nhật kích thước khoảng 30x40 cm và 01 đèn hình tròn đường kính khoảng 25 cm); 01 cân tiểu ly, 02 nhiệt kế, 01 điện thoại di động Oppo màu đỏ và 01 điện thoại di động Nokia màu đen thu giữ của bị cáo Cường. Xét đây là công cụ, phương tiện phạm tội nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Quá trình điều tra, Vũ Trọng D còn khai nhận, trước khi C bán cho D 01 gói cần sa với giá 5.000.000 đồng, C có bán cho D 01 điếu cần sa với giá 100.000 đồng. Tuy nhiên, C chỉ nhận cho D 01 điếu cần sa để hút thử, ngoài lời khai của D không còn chứng cứ nào khác chứng minh lần bán ma túy này nên không có căn cứ xử lý.

Trong vụ án này, Nguyễn Văn C còn khai đã bán ma tuý cho Đức Anh và 01 nam thanh niên không rõ lai lịch, địa chỉ. Tuy nhiên, những lần mua bán ma tuý này ngoài lời khai của C không có chứng cứ nào khác chứng minh, vì vậy Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ có căn cứ sẽ xử lý sau. Đối với người đàn ông tên M bán ma tuý cho C chưa xác minh được lai lịch, địa chỉ, Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ có căn cứ sẽ xử lý sau. Đối với Nguyễn Trọng T mua ma tuý Cần sa của C mục đích để sử dụng cho bản thân nhưng T chưa nhận được ma túy, nên không có căn cứ xử lý. Đối với Vũ Trọng D có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, cơ quan Công an đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

- Về án phí:

Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Cường phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Văn C 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/6/2021.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 bì giấy dấu niêm phong số 370MT-A/PC09 và 01 bao nilon màu xanh niêm phong số 370MT-B/PC09 bên trong gồm chất ma túy và vỏ bao bì hoàn lại sau giám định;

+ Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 06 đèn chiếu sáng (trong đó có 03 đèn hình chữ nhật kích thước khoảng 20x30 cm, 02 đèn hình chữ nhật kích thước khoảng 30x40 cm và 01 đèn hình tròn đường kính khoảng 25 cm); 01 cân tiểu ly; 02 nhiệt kế; 01 điện thoại di động Oppo màu đỏ và 01 điện thoại di động Nokia màu đen.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/10/2021 giữa Công an quận Ngô Quyền và Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền).

- Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc: Bị cáo Nguyễn Văn C phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo Nguyễn Văn C được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ