- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Đình Thái - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Bị cáo Dương Đình T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 182 /2020/HSST Ngày 20 /5 /2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Xuân Viện
2. Ông Dương Văn Xây
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Nam Thái - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Vũ Xuân Đại - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 5 năm 2020 tại Hội trường tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 160/2020/TLST-HS ngày 31 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135 /2020/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Dƣơng Đình T, sinh ngày 25 tháng 6 năm 1968
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ X, phường T, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên. Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/10. Con ông Dương Đình L, sinh năm 1937, con bà: Nguyễn Thị V, sinh năm 1937. Gia đình có 05 anh, em. Bị cáo là con thứ 03, có vợ Nguyễn Thị T, sinh năm 1970, có 02 con, lớn sinh năm 1994, nhỏ sinh năm 2007. Tiền án, tiền sự: Không
- Nhân thân: Tại bản số 23/HSST ngày 17/3/1999 của TAND tỉnh Thái Nguyên xử phạt 07 năm tù về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" .
Bị cáo đang bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/01/2020 đến nay. (Có mặt tại phiên tòa)
Người chứng kiến:
- Ông Nguyễn Thanh B, sinh năm 1964, địa chỉ tổ Y, phường X , thành phố TN , tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt tại phiên tòa);
- Ông Trần Văn S, sinh năm 1958, địa chỉ tổ Y, phường X , thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt tại phiên tòa);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 16 giờ 00 ngày 16/01/2020 tổ công tác của Công an phường X, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên đang làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại khu vực tổ Y của phường thì phát hiện 01 người đàn ông có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma tuý. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra, người đàn ông này khai tên là Dương Đình T và phát hiện tại túi áo ngực phía trước bên trái của T đang mặc có 01 gói nhỏ giấy bạc màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng, T khai nhận là Heroine của T mua để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T và thu giữ niêm phong vật chứng theo quy định.
Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng số chất bột màu trắng trong gói giấy bạc màu trắng thu giữ của Dương Đình T có khối lượng 0,109 gam. Niêm phong trong bì ký hiệu T1 gửi giám định.
Tại Kết luận giám định số 247/KL-KTHS ngày 23/01/2020 của Phòng kỹ thuật Hình sự, Công an tỉnh Thái Nguyên, kết luận: Chất bột màu trắng trong bì ký hiệu T1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,109 gam.
Tại cơ quan điều tra, Dương Đình T khai nhận: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 16/01/2020 Thái điều khiển xe mô tô gắn biển kiểm soát 89L3 - 4112 đi từ nhà ở phường T, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên đến khu vực phường X, thành phố TN mục đích để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Tại đây, Thái gặp và mua của 01 nam thanh niên không quen biết 200.000 đồng 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa Heroine. T cất gói Heroine vừa mua được vào trong túi áo ngực bên trái mà T đang mặc rồi đi tìm nơi để sử dụng số ma túy vừa mua được. Khi đi đến tổ Y, phường X, thành phố TN thì bị tổ công tác của Công an phường X, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng như đã nêu trên.
Lời khai nhận của Dương Đình T phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ, kết luận giám định.
Vật chứng của vụ án: 01 bì niêm phong ký hiệu T1 bên trong chứa Heroine (mẫu hoàn lại sau giám định). Hiện được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên chờ xử lý.
Tại bản Cáo trạng số 164/CT-VKSTPTN ngày 30 tháng 3 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Dương Đình T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như như nội dung bản cáo trạng truy tố.
Trong phần luận tội tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tóm tắt nội dung vụ án, phân tích các căn cứ kết tội bị cáo Dương Đình T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; đánh giá nhân thân; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Từ đó đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Dương Đình T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình năm 2015, xử phạt Dương Đình T từ 24 đến 30 tháng tù.
Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự vµ §iều 47 Bộ luật hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong ký hiệu T1, bên trong có chứa Heroine, mẫu hoàn lại sau giám định.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận việc truy tố và xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là không oan, đúng người, đúng tội
Tại lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan Điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, vật chứng thu giữ, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Hồi 16 giờ 00 phút ngày 16/01/2020 tại tổ 13, phường X, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên, Dương Đình T đang có hành vi tàng trữ 0,109 gam Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an phường X, thành phố TN phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng.
Đánh giá của Hội đồng xét xử: Bị cáo biết ma túy là vật cấm được Nhà quản lý nhưng vấn cố tình tàng trữ 0,109gam Heroine để sử dụng cho bản thân. Do vậy hành vi của bị cáo đã đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Viện kiểm sát thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Nội dung điều 249 quy định:
"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…
c, Heroine … có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
Xét tính chất mức độ của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm các quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Lỗi của bị cáo là lỗi cố y trực tiếp.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy:
5.1. Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân rất xấu đã bị xét xử 7 năm tù về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, bản án nêu trên bị cáo đã chấp hành xong hình phạt chính, chưa chấp hành hình phạt bổ sung và án phí nhưng do sự thay đổi của pháp luật hình sự, hành vi của bị cáo không cấu thành tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy ” nên bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm mà chỉ bị tính là nhân thân.
5.2. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[6]. Về hình phạt: Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò, cũng như nhân thân của bị cáo thì thấy rằng cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đảm bảo tính chất ngăn ngừa tội phạm nói chung và các tội phạm về ma túy nói riêng. Xét thấy mức án từ 24 đến 30 tháng tù đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đề nghị khi luận tội là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có công việc và thu nhập ổn định, không có tài sản gì để đảm bảo thi hành án do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.
Vật chứng của vụ án: 01 bì niêm phong ký hiệu T1 bên trong chứa Hêroine (mẫu hoàn lại sau giám định). Vật chứng là vật cấm và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí, quyền kháng cáo: Án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Về các vấn đề khác:
- Đối với số ma túy đã thu giữ, Dương Đình T khai mua của 01 người nam thanh niên không quen biết, ở khu vực phường Phú Xá, thành phố Thái Nguyên. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên không có cơ sở điều tra làm rõ để xử lý.
- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wawe RS mang biển kiểm soát 89L3 - 4112. Quá trình điều tra xác định chiếc xe này là vật chứng của vụ án "Trộm cắp tài sản" xảy ra ngày 20/01/2014 tại phường HB, Quận ĐĐ, thành phố HN. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên tiến hành tách hồ sơ chuyển di lý theo thẩm quyền đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố:
1. Bị cáo Dương Đình T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
2. Xử phạt: Bị cáo Dương Đình T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 16/01/2020. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;
Căn cứ Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự Quyết định tạm giam bị 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
3. Vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự vµ §iều 47 Bộ luật hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong đúng quy định ký hiệu T1 (bên trong chứa 0,075 gam mẫu còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu T1), mặt sau phong bị niêm phong có 02 (hai) hình dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên và chữ ký ghi họ tên: Trương Đăng Tam.
(Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 308 ngày 11/ 5 /2020 giữa Công an thành phố Thái Nguyên và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên).
3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà Nước.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./. Nơi nhận:
TM. Hội đồng xét xử sơ thẩm
- VKSND tỉnh TN;
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa
- VKS nhân dân TPTN;
- Công an TP Thái Nguyên;
- Trại tạm giam Công an tỉnh TN;
- Sở Tư pháp tỉnh TN;
- Chi cục THA dân sự TPTN;
Trần Thị Thu Hà
- Tòa án tỉnh TN;
- UBND nơi bị cáo cư trú;
- Bị cáo;
- Lưu. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Dƣơng Văn Xây – Trần Xuân Viện
Trần Thị Thu Hà
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh TN; - VKSND tỉnh TN; - VKSND thành phố TN; - Công an thành phố TN; - Chi cục THADSTPTN; - Sở tư pháp tỉnh Thái Nguyên; - Bị cáo; - Lưu HS; Lưu BP. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thu Huệ |