vanban.org

Bản án 182/2020/HS-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tịch thu tiêu hủy 1,7106 gam ký hiệu M.60/2020 đối tượng giám định toàn bộ bao gói mở niêm phong hoàn trả trong phong bì hoàn mẫu số: 148/GĐH-PC09 ngày 06 tháng 7 năm 2020.

Án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo Phạm V phải nộp số tiền là 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) (chưa nộp). Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Giang - Ân"
  • Tòa quyết gì? Tịch thu tiêu hủy 1,7106 gam ký hiệu M.60/2020 đối tượng giám định toàn bộ bao gói mở niêm phong hoàn trả trong phong bì hoàn mẫu số: 148/GĐH-PC09 ngày 06 tháng 7 năm 2020.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật hình sự tuyên bố
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 182/2020/HS-ST
Ngày 21 – 10 – 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thúy Dung

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Hoàng Khởi.

Ông Võ Sĩ Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đình Chưởng, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Trương Ngọc Kiển – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 10 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 198/2020/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 802/2020/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm V, Tên gọi khác: B, sinh năm: 1988, tại Hải Phòng.

Nơi cư trú: Khóm Ư, phường O, thành phố CM, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Văn H, sinh năm: 1961, con bà: Nguyễn Thị T, sinh năm 1962 (cả 2 còn sống); Anh chị em ruột: Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Vợ: Hoàng Thị Hồng N, sinh năm: 1993, con: Phạm Văn N, sinh năm: 2012. Tiền án: Không; tiền sự: Không; Bị tạm giữ ngày 05/7/2020 chuyển tạm giam ngày 08/7/2020 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Cà Mau (Bị cáo có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 03 giờ ngày 05/7/2020, Lực lượng Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Cà Mau kết hợp với Công an phường 8, thành phố Cà Mau tuần tra tại khu vực khóm 1, phường 8, thành phố Cà Mau phát hiện Nghê Phương H đang điều khiển xe mô tô biển số 69C1-366.90, chở theo Phạm V có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành dừng phương tiện kiểm tra phát hiện và bắt quả tang Phạm V đang tàng trữ trái phép chất ma túy. Qua kiểm tra thu giữ của Phạm V:

- Trong túi quần jean V đang mặc 01 (một) gói ny lon bên trong chứa 06 viên nén màu vàng nghi là ma túy (thuốc lắc) ký hiệu: M.60/2020.

- 01 (Một) điện thoại di động màu hồng – trắng mặt sau có chữ Iphone và hình trái táo khuyết đã qua sử dụng. 01 (Một) điện thoại di động có chữ Nokia màu đen đã qua sử dụng. Tiền Việt Nam: 800.000đồng.

- 01 (một) xe mô tô biển số 69C1- 366.90 nhãn hiệu hon đa của Nghê Phương H.

Tại kết luận giám định số 148/GĐH - PC09, ngày 06/7/2020, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau, kết luận: 06 viên nén màu vàng bên trong bọc ny lon được niêm phong trong phong bì hình chữ nhật (ký hiệu: M.60/2020) thu giữ ngày 05/7/2020 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 2.1269 gam, loại MDMA. Hoàn lại: 1,7106 gam ký hiệu M.60/2020 đối tượng giám định toàn bộ bao gói mở niêm phong hoàn trả trong phong bì hoàn mẫu số: 148/GĐH-PC09 ngày 06 tháng 7 năm 2020.

Tại cáo trạng số: 191/CT-VKS ngày 29/9/2020 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau truy tố bị cáo Phạm V về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Phạm V theo cáo trạng số: 191/CT-VKS ngày 29/9/2020 và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Về vật chứng, căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 1,7106 gam ký hiệu M.60/2020 đối tượng giám định toàn bộ bao gói mở niêm phong hoàn trả trong phong bì hoàn mẫu số: 148/GĐH-PC09 ngày 06 tháng 7 năm 2020. Ngày 06/7/2020, Cơ quan điều tra Công an thành phố Cà Mau trả 01 (Một) điện thoại di động màu hồng – trắng mặt sau có chữ Iphone và hình trái táo khuyết đã qua sử dụng. 01 (Một) điện thoại di động có chữ Nokia màu đen đã qua sử dụng. Tiền Việt Nam: 800.000đồng cho Nguyễn Văn T quản lý thay bị cáo. Trả 01 (một) xe mô tô biển số 69C1-366.90 cho Nghê Phương H. Xét thấy việc trả những tài sản trên là đúng quy định pháp luật nên không đặt ra xem xét giải quyết

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không oan, không sai nên thống nhất với luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến gì khác. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Cà Mau, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, Kiểm sát viên Quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp, được thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự quy định.

Bị cáo là người đã từng sử dụng ma túy nhiều lần nên vào khoảng 03 giờ, ngày 05/7/2019, tại khóm 1, phường 8, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau, bị cáo Phạm V có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, loại MDMA có tổng khối lượng 2.1269 gam nhằm mục đích sử dụng thì bị bắt quả tang cùng tang vật. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản phạm tội quả tang và các chứng cứ khác đã thu thập được trong quá trình điều tra, phù hợp với kết luận giám định.

Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội thấy rằng, hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức và biết được tác hại của ma tuý nhưng vẫn thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội bởi chính tác hại của ma tuý sẽ gây ức chế về thần kinh, tạo ảo giác mạnh cho người sử dụng, làm ảnh hưởng đến sức khỏe, gián tiếp gây ra các tệ nạn xã hội khác. Do đó, cần xử lý nghiêm hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Tuy nhiên, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự cho bị cáo là phù hợp.

Về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy 1,7106 gam ký hiệu M.60/2020 đối tượng giám định toàn bộ bao gói mở niêm phong hoàn trả trong phong bì hoàn mẫu số: 148/GĐH-PC09 ngày 06 tháng 7 năm 2020.

Đối với các tài sản thu của bị cáo Phạm V và Nghê Phương H, ngày 06/7/2020 Cơ quan điều tra Công an thành phố Cà Mau trả cho Nguyễn Văn T quản lý thay bị cáo và trả cho Nghê Phương H xong nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Đối với đối tượng bán ma túy bị cáo khai tên C (do chưa xác định được lý lịch, nhân thân) quá trình điều tra chưa mời làm việc được. Vì vậy, giao cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, có căn cứ xử lý sau.

Đối với Nghê Phương H có sử dụng ma túy nên Cơ quan điều tra giao cho công an phường 7, thành phố Cà Mau lập hồ sơ áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường theo nghị định 111 ngày 30/9/2013 và Nghị định số 56 ngày 29/6/2016 của Chính phủ là có căn cứ.

Về án phí, bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự tuyên bố bị cáo Phạm V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Phạm V 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/7/2020.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 1,7106 gam ký hiệu M.60/2020 đối tượng giám định toàn bộ bao gói mở niêm phong hoàn trả trong phong bì hoàn mẫu số: 148/GĐH-PC09 ngày 06 tháng 7 năm 2020.

Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo Phạm V phải nộp số tiền là 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) (chưa nộp).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ