- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ T TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 182/2020/HNGĐ-ST Ngày: 12- 6-2020 “V/v ly hôn giữa Chị N và anh Ph” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ T, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ngọc Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Kim Chi.
Ông Võ Thái Quân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thiện Nhân – Thư ký Tòa án nhân dân HUYỆN PHÚ T, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân HUYỆN PHÚ T, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hoài – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2020, tại Tòa án nhân dân HUYỆN PHÚ T xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 138/2020/TLST-HNGĐ ngày 24/03/2020 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2020/QĐXXST-HNGĐ, ngày 21 tháng 5 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 1994.
Trú tại: Tổ 10, ấp Long H 2, xã Long H, huyện Phú T, tỉnh An Giang.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Huỳnh Ph, sinh năm 1992.
Trú tại: Tổ 1, ấp Long H 1, xã Long H, huyện Phú T, tỉnh An Giang.
(Các đương sự vắng tại phiên Tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ly hôn đề ngày 19/02/2020 nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh N trình bày:
Chị N và anh Ph sau thời gian tìm hiểu thì chung sống vợ chồng, không tổ chức lễ cưới theo nghi thức truyền thống nhưng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Long H. Giấy chứng nhận kết hôn số 07 ngày 07 tháng 02 năm 2014, chung sống hạnh phúc thời gian đầu, về sau Ph sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng hay cải nhau vì những chuyện vặt trong gia đình, sự việc kéo dài. Năm 2015 Chị N bỏ về nhà cha mẹ đẻ sống, vợ chồng ly thân từ đó, nay yêu cầu được ly hôn với Anh Nguyễn Huỳnh Ph.
Về con chung: Chị N và anh Ph có 01 người con chung tên Nguyễn Ngọc Gia Hiền, sinh ngày 12/11/2011. Con chung hiện đang sống với anh Ph, khi ly hôn Chị N đồng ý giao con chung cho anh Ph nuôi dưỡng, không cấp dưỡng
Về tài sản chung, nợ chung: Không có. Ngày 21/5/2020 Chị N có đơn xin xét xử vắng mặt.
Anh Nguyễn Huỳnh Ph vắng mặt từ khi Tòa án thụ lý vụ án nên không có ý kiến trình bày.
Tòa án tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân vợ chồng được bà Huỳnh Bảo H, ông Nguyễn Hữu Th là cha, mẹ đẻ anh Ph cho biết anh Ph là con út của ông, bà hiện vẫn còn đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp Long H 1, xã Long H, huyện Phú T, tỉnh An Giang, hôn nhân của Ph và N là tự tìm hiểu, chung sống vợ chồng năm 2011 nhưng đến năm 2014 mới đăng ký kết hôn, không tổ chức lễ cưới. Nay N yêu cầu ly hôn ý kiến ông Th, bà H cho Ph ly hôn với N. Vợ chồng Ph có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Gia Hiền, sinh ngày 12/11/2011 đang sống với Ph và hai vợ chồng ông, nếu Tòa án giao con chung cho Ph và vợ chồng tôi nuôi dưỡng, vợ chồng tôi không yêu cầu N cấp dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung theo ông Th, bà H biết là không có.
Tại phiên tòa, kiểm sát viên Ph biểu về quá trình tiến hành tố tụng và đề xuất như sau:
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật, Tuy nhiên anh Ph vắng mặt từ khi được thông báo các văn bản tố tụng, nhưng anh không có mặt là chấp hành pháp luật chưa nghiêm.
- Về việc giải quyết vụ án: Hôn nhân của Chị N và anh Ph được xác lập trên cở sở tự tìm hiểu, hôn nhân có đăng ký kết hôn. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ; quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và ly thân, từ khi ly thân đến nay không hàn gắn được. Nên yêu cầu ly hôn của Chị N là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Về con chung: Hiện tại đang sống với anh Ph, anh Ph yêu cầu tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu Chị N cấp dưỡng. Đề nghị HĐXX giao con chung cho anh Ph tiếp tục nuôi dưỡng.
Về tài sản chung, Nợ chung: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp: Chị N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Ph nên quan hệ tranh chấp của vụ án là “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Ph được tống đạt các văn bản tố tụng, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa, nhưng anh không có mặt nên HĐXX xét xử vắng mặt anh theo Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, hiện tại anh Ph có nơi cư trú tại ấp Long H 1, xã Long H, huyện Phú T, tỉnh An Giang nên căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân HUYỆN PHÚ T, tỉnh An Giang.
[2.] Về nội dung:
Hôn nhân của Chị N và anh Ph được xác lập năm 2014 trên cơ sở tự tìm hiểu, không tổ chức lễ cưới nhưng có đăng ký kết hôn nên hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp nên làm Ph sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng.
Xét về yêu cầu ly hôn, thấy rằng: Trong thời gian chung sống vợ chồng Chị N, anh Ph có nhiều mâu thuẫn nên thường xuyên cãi vã, mâu thuẫn kéo dài trong nhiều năm. Năm 2015 Chị N bỏ nhà đi, vợ chồng ly thân, trong thời gian ly thân anh Ph không tới lui thăm hỏi vợ con.
Theo quy định tại Điều 19, Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình; Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau….”. Thế nhưng vợ chồng Chị N, anh Ph không còn chung sống khoảng hơn năm năm nay là khoảng thời gian dài. Điều này chứng tỏ vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cũng như không thể chia sẻ công việc trong gia đình với nhau được nữa, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử thống nhất cho Chị N được ly hôn anh Ph.
[3] Về con chung: Chị N trình bày vợ chồng có 01 người con chung tên Nguyễn Ngọc Gia Hiền, sinh ngày 12/11/2011 con chung chưa thành niên, khi ly hôn Chị N đồng ý giao con chung cho anh Ph nuôi dưỡng, không cấp dưỡng. Xét thấy từ khi ly thân đến nay cháu Hiền sống chung với anh Ph, có cuộc sống ổn định, nên tiếp tục giao cháu Hiền cho Ph nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Anh Ph không ý kiến trình bày nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom mà không ai được cản trở.
Chị N trình bày tài sản chung, nợ chung không có nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nhưng sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân thì phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
[4] Về án phí: Chị N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227, Điều 228; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
-Điều 19, Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
-Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho Chị Nguyễn Thị Thanh N được ly hôn với Anh Nguyễn Huỳnh Ph.
Về con chung: Anh Nguyễn Huỳnh Ph được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung tên Nguyễn Ngọc Gia Hiền, sinh ngày 12/11/2011. Con chung hiện đang sống với anh Ph. Chị Nguyễn Thị Thanh N không phải cấp dưỡng cho con.
Việc nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chưa thành niên không cố định
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung: Không.
Nợ phải thu, phải trả chung của vợ chồng: Không.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thanh N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0006779 ngày 24/03/2020 của Chi cục Thi hành án huyện Phú T, tỉnh An Giang. Chị N không phải nộp thêm án phí.
Anh Nguyễn Huỳnh Ph không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Ph, Chị N vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo đối với bản án là 15 ngày tính từ ngày anh nhận được bản án hoặc niêm yết.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang; - Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú T; - Ủy ban nhân dân xã Long H; - Lưu: hồ sơ vụ án, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Ngọc Thảo |