vanban.org

Bản án 182/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau Tuyên án 28/11/2019 Dân sự Sơ thẩm
Có áp dụng án lệ Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP SG TT.

Buộc anh Phan Bá T và chị Lê Kim H phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP SG TT số tiền là 124.612.367 đồng (một trăm hai mươi bốn triệu sáu trăm mười hai ngàn ba trăm sáu mươi bảy đồng). Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của s… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng TMCP SG TT - Phan Bá T, Lê Kim H"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP SG TT.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 182/2019/DS-ST
Ngày 28 - 11 - 2019
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Minh Thịnh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Hải Âu

Ông Châu Hải Dương

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Diễm My là Thư ký Toà án nhân dân huyện Đầm Dơi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi tham gia phiên toà: Bà Trần Hồng Cẩm - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 407/2019/TLST-DS ngày 04 tháng 10 năm 2019 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 480/2019/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP SG TT (Sacombank); Địa chỉ trụ sở: Số 266 – 268 NKKN, p 8, q 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của Ngân hàng TMCP SG TT: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Tổng Giám đốc là người đại diện theo pháp luật.

Người đại diện hợp pháp của bà Nguyễn Đức Thạch D: Ông Diệp Lâm Kỳ P – Giám đốc chi nhánh Cà Mau là người đại diện theo ủy quyền - Văn bản ủy quyền số 4047/2018/GUQ-PL ngày 10/12/2018.

Người đại diện hợp pháp của ông Diệp Lâm Kỳ P: Anh Nguyễn Bình P1 – Chuyên viên quản lý nợ - Phòng kiểm soát rủi ro – Chi nhánh Cà Mau là người đại diện theo ủy quyền - Văn bản ủy quyền 1259/GUQ-CNCM ngày 27/11/2019 (có mặt).

- Bị đơn:

1. Anh Phan Bá T, sinh năm 1986; cư trú tại: Ấp LHT, xã TT, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

2. Chị Lê Kim H, sinh năm 1988; cư trú tại: Ấp LHT, xã TT, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Đại diện Ngân hàng TMCP SG TT trình bày: Ngày 03/12/2018, anh Phan Bá T, chị Lê Kim H và Ngân hàng TMCP SG TT – Chi nhánh Cà Mau – Phòng giao dịch ĐD đã ký hợp đồng cho vay số LD1833000271 vay số tiền 110.000.000đ; thời hạn vay 12 tháng; mục đích vay là bổ sung vốn kinh doanh thức ăn gia súc, gia cầm, chế phẩm sinh học, vi sinh, vôi, zeo và thuốc cá; lãi suất 01 tháng đầu tiên là 11.5%/năm. Kể từ tháng thứ 02 trở đi lãi suất của toàn bộ dư nợ vay điều chỉnh theo định kỳ 03 tháng/ lần, lãi suất điều chỉnh bằng lãi suất tiền gửi Việt Nam đồng kỳ hạn 12 tháng lãnh lãi cuối kỳ của Sacombank + biên độ 4,6%/năm.

Biện pháp đảm bảo: Để đảm bảo cho khoản vay ngày 03/12/2018 anh T và chị H đã thế chấp toàn bộ đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 14, tờ bản đồ số 24 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CĐ 964661, số vào sổ CH 00082 do UBND huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau cấp ngày 26/10/2016 với diện tích 287,2m2.

Trong quá trình vay, anh T và chị H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên ngân hàng đã chuyển toàn bộ hồ sơ khoản vay sang nợ quá hạn. Mặc dù, ngân hàng đã liên hệ nhiều lần nhưng anh T, chị H vẫn lẫn tránh, không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ như hợp đồng tín dụng đã ký.

Tính đến ngày 13/9/2019, anh T, chị H còn nợ ngân hàng số tiền 120.584.653đ (trong đó: Nợ gốc 119.504.088đ; lãi trong hạn 1.074.384đ; lãi quá hạn 6.181đ).

Nay ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết:

1/ Buộc anh T và chị H phải có nghĩa vụ trả số tiền 120.584.653đ [trong đó: Vay thế chấp 110.080.565đ; (Nợ gốc 119.504.088đ; lãi trong hạn 1.074.384đ; lãi quá hạn 6.181đ)]; thẻ tín dụng: 9.504.088đ; lãi phát sinh kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán dứt nợ.

2/ Trong trường hợp anh T, chị H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là phần đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 14, tờ bản đồ số 24 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CĐ 964661, số vào sổ CH 00082 do UBND huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau cấp ngày 26/10/2016 với diện tích 287,2m2.

Anh Phan Bá T và chị Lê Kim H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến đối với nội dung, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP SG TT.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Ngân hàng TMCP SG TT yêu cầu anh T, chị H trả số tiền 124.612.367đ và tiền lãi phát sinh kể từ ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán dứt nợ. Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật mà anh T, chị H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không đầy đủ số tiền còn nợ thì Sacombank có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự là đúng với trình tự, thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 299; Điều 318; Điều 463; Điều 466 và Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91; khoản 2 Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010; Án lệ số 08; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP SG TT, buộc anh T, chị H trả cho Ngân hàng TMCP SG TT tổng số tiền 124.612.367đ. Trong đó: Vay thế chấp 114.321.416đ (vốn 110.000.000đ; lãi trong hạn 4.262.878đ, lãi quá hạn 58.538đ); thẻ tín dụng 10.290.951đ.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử điều chỉnh lãi suất trong hợp đồng tín dụng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm và cho phép Ngân hàng TMCP SG TT được quyền yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo khoản tiền vay để thu hồi nợ, nếu trường hợp anh T, chị H không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng.

Chi phí xem xét tại chỗ và án phí dân sự sơ thẩm các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng TMCP SG TT khởi kiện yêu cầu anh Phan Bá T, chị Lê Kim H trả tiền vốn, lãi theo hợp đồng tín dụng được ký kết là vụ kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng, do đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về tố tụng: Toà án đã triệu tập hợp lệ đối với anh T, chị H, nhưng các đương sự này vắng mặt không phải vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh T, chị H.

Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP SG TT, Hội đồng xét xử nhận thấy: Anh T, chị H có ký kết hợp đồng số LD1833000271 để vay Sacombank số tiền 110.000.000đ, đồng thời hai bên có thỏa thuận thời hạn và lãi suất vay. Ngoài ra, anh T còn vay thẻ tín dụng với số tiền là 10.290.951đ. Để đảm bảo cho khoản vay anh T, chị H có ký kết hợp đồng thế chấp tài sản là phần đất có diện tích 287,2m2 và các tài sản gắn liền trên đất tọa lạc ấp LHT, xã TT, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau là thực tế có xãy ra.

Xét hợp đồng tín dụng, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hợp đồng giữa các bên ký kết là hợp pháp cả về lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn và lãi suất chậm trả, vì theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 quy định “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Do vậy việc thỏa thuận giữa Sacombank và anh T, chị H về mức lãi suất nêu trên là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật. Tính đến ngày xét xử 28/11/2019 anh T, chị H còn nợ Sacombank số tiền vay thế chấp 114.321.416đ (vốn 110.000.000đ; lãi trong hạn 4.262.878đ, lãi quá hạn 58.538đ); thẻ tín dụng 10.290.951đ; tổng cộng 124.612.367đ. Như vậy, việc anh T, chị H không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ đã làm thiệt hại đến quyền lợi của Sacombank, vi phạm hợp đồng tín dụng đã ký kết, cho nên anh T, chị H phải có nghĩa vụ trả cho Sacombank tổng số tiền 124.612.367đ là phù hợp.

Đối với anh T, chị H: Mặc dù anh đã biết được nội dung khởi kiện của Sacombank, nhưng không phản đối bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Do đó, yêu cầu khởi kiện của Sacombank thuộc trường hợp tình tiết, sự kiện không phải chứng minh được quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Xét yêu cầu của Sacombank về việc điều chỉnh lãi suất trong hợp đồng tín dụng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm là phù hợp với nội dung của Án lệ số 08/2016/AL nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét yêu cầu của Sacombank về việc thanh lý tài sản đảm bảo trong trường hợp anh T, chị H không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thấy rằng: Theo khoản 2 Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng quy định “Trong trường hợp khách hàng không trả được nợ đến hạn, nếu các bên không có thỏa thuận khác thì tổ chức tín dụng có quyền xử lý nợ, tài sản đảm bảo tiền vay theo hợp đồng tín dụng, hợp đồng đảm bảo và quy định của pháp luật”. Do đó, yêu cầu của Sacombank là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi tham gia phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét về án phí dân sự: Do yêu cầu khởi kiện của Sacombank được chấp nhận, nên anh T, chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, cụ thể: 124.612.367đ x 5% = 6.230.000đ.

Xét về chi phí xem xét tại chỗ: Do yêu cầu khởi kiện của Sacombank được chấp nhận, nên anh T, chị H phải chịu chi phí xem xét tại chỗ theo quy định tại khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 5; khoản 2 Điều 91; khoản 2 Điều 92; Điều 147; khoản 1 Điều 157 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 91; khoản 2 Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP SG TT.

1. Buộc anh Phan Bá T và chị Lê Kim H phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP SG TT số tiền là 124.612.367 đồng (một trăm hai mươi bốn triệu sáu trăm mười hai ngàn ba trăm sáu mươi bảy đồng).

2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

3. Trong trường hợp anh Phan Bá T và chị Lê Kim H không trả nợ hoặc trả không đủ số tiền còn nợ của Hợp đồng tín dụng số LD1833000271, thì Ngân hàng TMCP SG TT có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật là quyền sử dụng đất tọa lạc ấp LHT, xã TT, huyện ĐD thửa đất số 14, tờ bản đồ số 24 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CĐ 964661, số vào sổ CH 00082 do Uỷ ban nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau cấp ngày 26/10/2016 với diện tích 287,2m2 theo hợp đồng thế chấp tài sản đã ký kết để thu hồi nợ.

4. Về án phí dân sự:

4.1. Ngân hàng TMCP SG TT không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP SG TT 3.015.000 đồng (ba triệu không trăm mười lăm đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0009929 ngày 04 tháng 10 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi.

4.2. Anh Phan Bá T và chị Lê Kim H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là đồng (sáu triệu hai trăm ba mươi ngàn đồng).

5. Về chi phí xem xét tại chỗ: Anh Phan Bá T và chị Lê Kim H phải chịu chi phí là 1.000.000 đồng (một triệu đồng). Buộc anh Phan Bá T và chị Lê Kim H phải có nghĩa vụ nộp số tiền 1.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi để hoàn trả cho Ngân hàng TMCP SG TT.

6. Kể từ ngày Ngân hàng TMCP SG TT có đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền chi phí xem xét tại chỗ, nếu anh Phan Bá T và chị Lê Kim H chậm thi hành khoản tiền nêu trên, thì hàng tháng anh T, chị H còn phải chịu thêm khoản lãi suất chậm thi hành theo mức lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng số tiền và thời gian chậm thi hành.

7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

8. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ