vanban.org

Bản án 182/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: nh Vũ Thế C được ly hôn ch Đường Th D.

Về nuôi con chung: Giao cháu Vũ Đường Hoàng H, sinh ngày 09/9/2012 cho anh Vũ Thế C trực tiếp nuôi dư ng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi. Ch Đường Th D không phải cấp dư ng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở. Về án phí: Anh C phải nộp 300.000đ (Ba t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: nh Vũ Thế C được ly hôn ch Đường Th D.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SƠN DƯƠNG
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 182/2018/HNGĐ-ST.
Ngày 29/5/2018
V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Toàn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Ngô Cao Lâm

2. Bà Hoàng Th nh

- Thư ký phiên toà: Bà Hà Th Vân nh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Th Huyền Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 43/2018/TLST-HNGĐ ngày 19/01/2018, về việc "Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn", theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử số 16/2018/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2018, Quyết đ nh hoãn phiên tòa số 17/2018/QĐST- HNGĐ ngày 11/5/2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: nh Vũ Thế C, sinh năm 1990.

Trú tại: thôn Đ, xã Q, huyện T, tỉnh Yên Bái.

2. Bị đơn: Ch Đường Th D, sinh năm 1993.

Trú tại: Thôn M, xã C, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.

(Anh C có mặt; chị D vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 12/01/2018 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, lời khai tại phiên tòa, nguyên đơn là anh Vũ Thế C trình bày:

Anh kết hôn với ch Đường Th D vào ngày 01/12/2011, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Yên Bái. Trước khi kết hôn vợ chồng anh được tự do tìm hiểu, được tổ chức cưới hỏi theo phong tục đ a phương, không b ép buộc. Sau ngày cưới, anh và ch D về chung tại thôn Đ, xã B, huyện T, tỉnh Yên Bái. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên đến khoảng năm 2014 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ch D lười lao động, ham chơi bời, không có tình cảm, từ đó vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi chửi nhau. Từ ngày 14/5/2014 ch D đã tự ý bỏ về quê ở thôn M, xã C, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. nh cũng đã nhiều lần sang để động viên ch quay về đoàn tụ để cùng nhau nuôi dạy con cái. Tuy nhiên, ch D trốn tránh và không muốn quay về đoàn tụ, cũng không thăm hỏi, chăm sóc gì đến con cái, thời điểm đó con chung giữa anh và ch D mới được 20 tháng tuổi. Từ tháng 5/2014 đến nay anh và ch D sống ly thân. Nay anh xác đ nh tình cảm vợ chồng không còn nên đề ngh Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với ch D.

Về con chung: anh C xác đ nh anh và ch D có 01 con chung là cháu Vũ Đường Hoàng H, sinh ngày 09/9/2012. Từ khi ch D bỏ đi đến nay, anh là người trực tiếp nuôi dư ng cháu H. Khi ly hôn anh đề ngh được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu ch D cấp dư ng nuôi con.

Về tài sản, đất đai, công nợ chung: Anh C xác đ nh anh và ch D không có tài sản, đất đai, công nợ chung, vì vậy không đề ngh Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng theo quy đ nh của pháp luật và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ch D không thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Do đó Tòa án không tiến hành lấy lời khai và hòa giải được.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 23/3/2018, ông Đường Xuân H (bố đẻ của chị Đường Thị D) là người làm chứng trình bày:

Về thời gian kết hôn và quá trình chung sống của anh C và ch D như anh C trình bày là đúng. Tuy nhiên về nguyên nhân dẫn đến ly hôn ông xác đ nh là do l i của cả hai vợ chồng do không biết khuyên ngăn, nhường nh n nhau nên thường xảy ra xô sát. Khoảng tháng 5 năm 2014 không r nguyên nhân vì sao ch D chuyển h n về sinh sống cùng gia đình ông. Hiện nay ch D đi làm lao động tự do ở nhiều nơi, thỉnh thoảng vẫn đi lại về nhà nhưng không nói cho gia đình biết làm gì, ở đâu. Các giấy tờ, văn bản Tòa án yêu cầu ông chuyển ông đã giao đầy đủ cho ch D, ch D có nói với ông nhất trí ly hôn nhưng không muốn đến Tòa làm việc. Quan điểm của ông là anh C và ch D mâu thuẫn đã quá trầm trọng, thời gian sống ly thân đã lâu, gia đình hai bên đã hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Vì vậy Tòa án nên giải quyết cho anh C ly hôn với ch D là phù hợp với hoàn cảnh thực tế.

Về việc giao nuôi con chung, ông cho rằng ý kiến anh C trình bày là đúng với thực tế những gì ông chứng kiến.

Tại phiên toà đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương phát biểu quan điểm: Toà án đã thụ lý, giải quyết vụ án ly hôn sơ thẩm về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn” là đúng thẩm quyền, đúng nội dung tranh chấp. Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa, thẩm phán và Hội đồng xét xử (HĐXX) đã thực hiện đúng các quy đ nh của pháp luật tố tụng dân sự; quyền và nghĩa vụ của đương sự được đảm bảo. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đúng quy đ nh của pháp luật, đề ngh HĐXX chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Tòa, HĐXX nhận đ nh:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: nh Vũ Thế C và ch Đường Th D kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Yên Bái ngày 01/12/2011, vì vậy quan hệ hôn nhân giữa anh C và ch D là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Anh C khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và giao nuôi con chung khi ly hôn, do vậy quan hệ pháp luật tranh chấp xác đ nh là: Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn theo quy đ nh tại khoản 1, Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: kết quả xác minh tại chính quyền đ a phương cho thấy, ch Đường Th D là lao động tự do đi làm ở các đ a phương khác nhau nhưng vẫn thường xuyên đi về nhà, hiện tại vẫn đăng ký hộ khẩu thường trú và đang sinh sống tại thôn M, xã C, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Vì vậy, căn cứ khoản 1, điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án là Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương.

[3] Ch Đường Th D đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, HĐXX căn cứ khoản 3 điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt b đơn.

Về yêu cầu ly hôn của anh Vũ Thế C, HĐXX nhận đ nh: Căn cứ kết quả xác minh tại chính quyền đ a phương nơi cư trú của ch D xác đ nh: Anh C và ch D kết hôn vào năm 2011. Sau khi kết hôn, anh ch làm ăn sinh sống tại thôn Đ, xã B, huyện T, tỉnh Yên Bái. Khoảng tháng 5 năm 2014, do mâu thuẫn vợ chồng nên ch D bỏ về quê sinh sống và đi làm ăn nhiều nơi, sống ly thân với anh C từ đó đến nay. Quá trình chung sống tại nơi cư trú, chính quyền đ a phương chứng kiến việc anh C và ch D có mâu thuẫn với nhau. Việc mâu thuẫn vợ chồng và sống ly thân giữa anh C và ch D cũng được chính người thân gia đình ch D xác nhận. Anh C xác đ nh không còn tình cảm vợ chồng với ch D, không thể quay về đoàn tụ được, trong suốt quá trình sống ly thân hai anh ch không còn quan tâm, chăm sóc gì đến nhau. Từ đó cho thấy, tình trạng hôn nhân giữa anh C và ch D đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của anh C là chính đáng và có căn cứ cần chấp nhận theo quy đ nh tại khoản 1, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về việc giao nuôi con chung khi ly hôn, HĐXX nhận đ nh: anh C và ch D có 01 con chung là cháu Vũ Đường Hoàng H, sinh ngày 09/9/2012, từ khi sống ly thân (tháng 5/2014) đến nay cháu H sống cùng anh C và ông bà nội, hiện anh C đang trực tiếp nuôi dư ng. Vì vậy, quá trình giải quyết vụ án mặc dù ch D không hợp tác, không trình bày quan điểm về việc giao nuôi con chung khi ly hôn, nhưng căn cứ vào kết quả xác minh và ý kiến của anh C, HĐXX xét thấy cần giao cháu Vũ Đường Hoàng H cho anh C trực tiếp nuôi dư ng là phù hợp. Anh C không yêu cầu ch D cấp dư ng nuôi con chung nên ch D không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dư ng nuôi con và được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về tài sản, đất đai, công nợ chung: Anh C xác đ nh anh và ch D không có tài sản, đất đai, công nợ chung, không đề ngh Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

Về án phí: Anh C phải nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy đ nh của pháp luật. Ch D không phải nộp án phí.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy đ nh của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 39, 147, 228, 264, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 57, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Ngh quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: nh Vũ Thế C được ly hôn ch Đường Th D.

2. Về nuôi con chung: Giao cháu Vũ Đường Hoàng H, sinh ngày 09/9/2012 cho anh Vũ Thế C trực tiếp nuôi dư ng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi. Ch Đường Th D không phải cấp dư ng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở.

3. Về án phí: Anh C phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số N0 0005739 ngày 19 tháng 01 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Ch Đường Th D không phải nộp án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/5/2018), vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ