vanban.org

Bản án 181/2024/HSST — Hình sự

TAND huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam Tuyên án 23/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình sự: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Văn O phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Xử phạt: Bị cáo Trịnh Văn O 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/10/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "TRỊNH VĂN O "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Về hình sự: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DUY TIÊN
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 181/2024/HSST
Ngày 23 - 12 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tươi. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hoằng và ông Vũ Quốc Phòng.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Lan Anh - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên tham gia phiên toà: Ông Nghiêm Văn Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 12 năm 2024, tại Toà án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 183/2024/HSST ngày 04 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 188/2024/QĐXXST - HS ngày 09 tháng 12 năm 2024 đối với:

- Bị cáo: Trịnh Văn O (tên gọi khác: Không), sinh năm 1979; nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 5/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Trịnh Văn U (đã chết) và bà Lê Thị T (đã chết); vợ: Đinh Thị Thu T1 (đã ly hôn); con: 01 con sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tháng 9/2003 bị Công an thành phố P, tỉnh Hà Nam xử phạt vi phạm hành chính 200.000đ về hành vi “Trộm cắp tài sản” đã chấp hành xong. Tháng 12/2003 UBND tỉnh H áp dụng biện pháp “Đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc”, thời gian 24 tháng. Ngày 28/01/2008 bị TAND thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xử phạt 38 tháng tù về tội “Cướp tài sản”, đã chấp hành xong bản án. Tháng 7/2019 bị Công an thành phố P, tỉnh Hà Nam xử phạt vi phạm hành chính 4.750.000đ về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản” đã chấp hành xong. Bị bắt tạm giữ từ ngày 11/10/2024 đến ngày 20/10/2024 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.

- Người chứng kiến: Anh Nguyễn Đức L, anh Trần Mạnh H; đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 11/10/2024, tổ công tác của Công an xã T, thị xã D tuần tra trên địa bàn thôn Đ, xã T, thị xã D, tỉnh Hà Nam, phát hiện bắt quả tang Trịnh Văn O đang cất giữ trong túi quần bên phải phía trước đang mặc 01 gói giấy màu trắng, kiểm tra bên trong có chứa 01 viên nén màu đỏ và các mảnh viên nén màu đỏ đã bị vỡ. Trịnh Văn O khai nhận đó là ma túy ngựa cất giữ để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối Trịnh Văn O đồng thời thu giữ vật chứng có liên quan.

* Vật chứng thu giữ gồm: T2 tại túi quần bên phải phía trước đang mặc của Trịnh Văn O 01 gói giấy màu trắng loại giấy vệ sinh bên trong có 01 viên nén màu đỏ và các mảnh viên nén màu đỏ đã bị vỡ không rõ hình được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01.

* Khám xét khẩn cấp nơi ở của Trịnh Văn O tại Tổ dân phố Đ, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam: Không thu giữ tài liệu, đồ vật gì liên quan.

Tại bản kết luận giám định số 829/KL-KTHS ngày 18/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh H, kết luận: Mẫu 01 viên nén màu đỏ và các mảnh vỡ màu đỏ niêm phong kí hiệu (TQ 01) gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,289g loại Methamphetamine.

Về nguồn gốc số ma tuý Trịnh Văn O khai nhận: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 11/10/2024, O đi nhờ xe của người đàn ông không quen biết đi từ nhà đến thị xã D mục đích mua ma túy để sử dụng. Khi đi đến khu vực thôn Đ, xã T, thị xã D gặp một người đàn ông khoảng 35 tuổi, không biết tên, địa chỉ ở đâu. O hỏi người đàn ông “Em có ngựa không bán cho anh mấy trăm” (ý hỏi mua ma túy của người đàn ông). Người đàn ông đó nói “Anh lấy bao nhiêu”. O trả trả lời “Để cho anh bốn trăm”, O lấy ra số tiền 400.000đ đưa cho người đàn ông, người đàn ông cầm tiền O đưa rồi đưa lại cho O một gói giấy màu trắng (loại giấy vệ sinh) và nói “Hàng đây anh”, O cầm mở ra xem thấy có 01 viên nén màu đỏ và các mảnh viên nén màu đỏ đã bị vỡ và biết đó là ma túy ngựa nên cất vào trong túi quần bên phải phía trước đang mặc rồi đi bộ tìm chỗ để sử dụng thì bị kiểm tra và bắt quả tang.

Cáo trạng số 184/CT - VKS - DT ngày 03 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam truy tố bị cáo Trịnh Văn O về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Trịnh Văn O mức án từ 36 đến 42 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đưa ra quan điểm về xử lý vật chứng và tuyên án phí đối với bị cáo.

Trong phần tranh luận và lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và không tranh luận gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, những người tiến hành tố tụng nêu trên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử xác định các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Về tội danh, tính chất, mức độ tội phạm: Xét lời khai của bị cáo tại phiên toà là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, HĐXX có đủ cơ sở để kết luận:

Hồi 12 giờ ngày 11/10/2024, tại thôn Đ, xã T, thị xã D, tỉnh Hà Nam, Trịnh Văn O có hành vi cất giữ trái phép 0,289 gam ma tuý loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang. Hành vi nêu trên của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hưởng xấu trật tự trị an tại địa phương, hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo Trịnh Văn O đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ pháp lý, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trịnh Văn O không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt:

Hình phạt chính: Từ nhận định trên, xét thấy hành vi của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng nên cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên HĐXX miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo là phù hợp.

Về các tình tiết khác, nguồn gốc ma tuý: Đối với người đàn ông O khai đã bán trái phép chất ma tuý cho O nhưng không xác định được là ai, địa chỉ ở đâu, ngoài lời khai của O ra không còn tài liệu nào khác nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã D không có căn cứ để xác minh làm rõ là đúng.

Về vật chứng vụ án: Đối với 01 phong bì niêm phong có số 829/KTHS là mẫu vật hoàn trả sau giám định ma tuý và là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu cho tiêu huỷ.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Về hình sự: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Văn O phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt: Bị cáo Trịnh Văn O 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/10/2024.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong có số 892/KTHS.

(Tình trạng, đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thị xã D và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Duy Tiên ngày 05/12/2024)

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo Trịnh Văn O phải chịu 200.000 đồng.

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ