- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Hà Đức Thiệu - tt ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hà Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ H TỈNH HÒA BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 181/2024/HS-ST Ngày: 20/12/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thành Niên.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Đạt và bà Nguyễn Thị Mai Linh
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Vũ Thị Lan Hương – Thư ký viên chính Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Hòa Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Lê - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 173/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:183/2024/QĐXXST – HS ngày 05/12/2024 đối với bị cáo:
Hà Đức T, sinh ngày 12/01/1995, tại: Hòa Bình. Nơi cư trú: Xóm Bon, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình. Giới tính: Nam, Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Hà Văn Đ và bà Xa Thị C (đã chết). Gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình.
Tiền án, tiền sự: Không.
* Nhân thân:
- Ngày 26/9/2018, bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ xử phạt 36 tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo Bản án số 43/2018, đã được xóa án tích.
Bị cáo bị giam giữ từ ngày 6/10/2024 đến nay, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố Hòa Bình, được trích xuất, có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Hà Văn Đ, sinh năm 1967.
Nơi cư trú: Xóm Bon, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình. (Ông Đ vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 05/10/2024 sau khi đi làm về, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 28FD – 010.13 đi từ nhà huyện Đ ra trung tâm thành phố H mục đích để tìm mua ma túy sử dụng. Khoảng 21 giờ 50 phút cùng ngày bị cáo đi đến khu vực cổng sân vận động tỉnh Hòa Bình, Tại đây bị cáo gặp một người đàn ông không quen biết, bị cáo đặt vấn đề hỏi mua ma túy thì được người này đồng ý, T đưa cho người đàn ông này 400.000đ, sau khi nhận tiền người này chỉ cho T vị trí cất giấu ma túy tại chân cột điện trong một ngõ nhỏ khu thủy sản, thuộc phường P, thành phố H. T tìm đến đó phát hiện 01 hộp giấy, bên trong có 01 gói giấy màu trắng chứa ma túy, T cầm gói ma túy trong lòng bàn tay phải lên xe và chuẩn bị ra về thì bị tổ công tác Công an thành phố H phát hiện bắt quả tang cùng tang vật. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định.
Bản kết luận giám định số: 544/KL-KTHS ngày 11/10/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự – Công an tỉnh Hòa Bình, kết luận:
“Chất bột dạng cục màu trắng trong phong bì niêm phong một mặt có ghi “Vật chứng vụ Hà Đức T - Tàng trữ trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 05/10/2024, tại khu thủy sản, phường P, thành phố H, tỉnh Hòa Bình” gửi giám định có khối lượng 0,24g (Không phẩy hai mươi bốn gam) là ma túy, loại Heroine (Heroin)".
Quá trình điều tra, Hà Đức T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, phù hợp với tài liệu, chứng cứ đã thu thập được.
Bản Cáo trạng số: 174/CT-VKS ngày 28/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H truy tố bị cáo: Hà Đức T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Kết thúc quá trình tranh tụng, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H giữ nguyên quyết định truy tố.
Về tội danh, điều luật và hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo: Hà Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt: Hà Đức T từ 16 đến 19 tháng tù.
Về xử lý vật chứng và án phí: Đề nghị tịch thu, tiêu huỷ toàn bộ số ma túy đã hoàn trả sau giám định và buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định.
Đối với 01 (Một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Sh 125i, màu sơn xám đen, BKS: 28FD-010.13, quá trình điều tra, Cơ quan Công an đã trả lại cho chủ sở hữu nên không đề cập.
Về nguồn gốc ma túy: Hà Đức T khai mua của một người đàn ông không quen biết tại khu thủy sản, thuộc phường P, thành phố H, Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch, địa chỉ của người đàn ông đã bán ma túy cho T. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Đề nghị tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo và người tham gia tố tụng khác theo quy định.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận và nói lời nói sau cùng xin được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Điều tra viên, của Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
. Về hành vi bị cáo đã thực hiện: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo khai nhận vào ngày 21/6/2024 có hành vi tàng trữ trái phép tàng trữ trái phép 0,24g ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang.
Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản mở niêm phong, xác định trọng lượng ma túy; Kết luận giám định chất ma túy, cùng các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận Hà Đức T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản trên là đúng quy định của pháp luật.
. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ chất ma túy là vi phạm pháp luật, song vì mục đích cá nhân bị cáo vẫn cố ý thực hiện dẫn đến phạm tội, hành vi bị cáo gây ra đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý về chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an, xã hội trên địa bàn thành phố Hòa Bình, mặt khác ma túy còn là nguyên nhân phát sinh của nhiều loại tội phạm khác, bị cáo là người có nhân thân xấu, ngày 26/9/2018 đã bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ xử phạt 36 tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy", nhưng bị cáo không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân, nay lại tiếp tục vi phạm pháp luật.
Do đó với hành vi phạm tội lần này cần xử lý nghiêm minh, áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đảm bảo tác dụng giáo dục bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Tình tiết quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, cần áp dụng để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Về nguồn gốc ma túy, bị cáo khai nhận mua của một người đàn ông không quen biết tại khu thủy sản, thuộc phường P, thành phố H, quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, nhưng chưa xác định được nhân thân, lai lịch, địa chỉ của người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào làm rõ sẽ xử lý ở vụ án khác.
. Về xử lý vật chứng: Đối với số ma túy thu giữ của bị cáo được hoàn trả sau giám định, đây là vật Nhà nước cấm lưu hành, do đó cần tịch thu, tiêu hủy.
Đối với chiếc xe mô tô được bị cáo sử dụng làm phương tiện đi mua ma túy, xác định chiếc xe trên là của ông Hà Văn Đ, bố đẻ bị cáo, khi cho mượn ông Đ không biết bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, Cơ quan điều tra đã trao trả cho ông Đạt là phù hợp, tòa không đề cập thêm.
. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Về quyền kháng cáo: Thông báo quyền kháng cáo cho bị cáo và người tham gia tố tụng khác theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Hà Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Hà Đức T 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/10/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu, tiêu huỷ: 01 (một) phong bì niêm phong dán kín, mặt trước có ghi: Mẫu vật còn lại sau khi giám định; Vụ: Hà Đức T, sinh năm 1995 – Có hành hành vi phạm tội về ma túy, xảy ra ngày 05 tháng 10 năm 2024. Tại phường P, thành phố H, tỉnh Hòa Bình”. Mép dán niêm phong có dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hòa Bình và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong.
Vật chứng có đặc điểm, hình dạng như mô tả trong biên bản giao nhận vật chứng số: 36/BB ngày 13 tháng 12 năm 2024, hiện lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố H.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; buộc bị cáo Hà Đức T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự, trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - Tòa án ND tỉnh HB; - Sở tư pháp tỉnh HB; - VKSND Tỉnh HB; - VKSND thành phố H; - Công an thành phố H; - Thi hành án hình sự; - Chi cục Thi hành án DS TPH; - Bị cáo; NLQ. - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thành Niên |