- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Quốc H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 181/2023/HS-ST Ngày 30-8-2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huỳnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Đức Chung.
2. Ông Ngô Hoàng Sĩ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Phương – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Thiện Đại - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 168/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 155/2023/QĐXXST–HS ngày 18 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
Phạm Quốc H, sinh năm 1994 tại tỉnh Bình Dương; đăng ký thường trú: Số X, tổ Y, khu phố K, phường TĐ, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương; chỗ ở: Phòng số X9, nhà trọ không tên, khu phố K, phường TĐ, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Q, sinh năm 1963 và bà Đỗ Thị Thu H, sinh năm 1965; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Diễm C, sinh năm 1993 và có 01 con sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 23/11/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Bến Cát (nay là thị xã Bến Cát), tỉnh Bình Dương xử 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng về tội: “Chống người thi hành công vụ” theo Bản án số 208/2011/HSST. Ngày 28/12/2021, bị cáo đã chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương từ ngày 16/02/2023 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Quốc H sử dụng trái phép chất ma túy đá (ma túy loại Methamphetamine) từ đầu năm 2020. H và Nguyễn Thị Hoài T (sinh ngày: 27/7/2003; đăng ký thường trú: Số nhà D, đường HD, Phường X8, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh) sống chung với nhau như vợ chồng và thuê phòng trọ số 09, nhà trọ không tên thuộc khu phố K, phường TĐ, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương để ở.
Khoảng 10 giờ ngày 15/02/2023, H điện thoại qua mạng xã hội Messenger hỏi mua của một đối tượng không rõ lai lịch 800.000 đồng ma túy thì người này chỉ dẫn H đi đến khu vực Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh để bán. Sau đó, H bắt xe ôm đi đến điểm hẹn, gặp và mua được 04 (bốn) gói nylon hàn kín chứa ma túy đá rồi quay về phòng trọ của mình thuê ở, cất giấu ma túy mua được trong hộp giấy cứng màu đen trong phòng. Đến khoảng 12 giờ ngày 16/02/2023, H lấy 01 gói ma túy đổ vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy, phần còn dư H hàn kín lại và cất giấu vào hộp màu đen như ban đầu. H sử dụng một mình, còn T đang ru con ngủ nên không biết H sử dụng ma túy. Đến khoảng 16 giờ 10 phút ngày 16/02/2023, lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy Công an thị xã Bến Cát phối hợp với Công an phường Tân Định kiểm tra hành chính phòng trọ của H, phát hiện tại vị trí dưới nền nhà có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 (một) bình nhựa có nắp màu đỏ, trên nắp có gắn 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu xanh và 01 đoạn ống thủy tinh.
Lực lượng công an tiến hành khám xét khẩn cấp phòng số 09 của H thuê ở phát hiện tại khu vực dưới nền nhà cách vị trí H ngồi khoảng 0,5m có 01 (một) hộp giấy cứng màu đen, bên trong có 04 (bốn) gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng. H khai chất tinh thể màu trắng là ma túy đá của H nên lực lượng công an tiến hành bắt người trong trường hợp khẩn cấp đối với H.
Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, gắn sim thuê bao số 0926 709 181.
- 01 (một) bình nhựa có nắp màu đỏ, trên nắp có gắn 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu xanh và 01 đoạn ống thủy tinh.
- 04 (bốn) gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng.
Theo Bản Kết luận giám định số 93 ngày 24/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng (bị thu giữ), gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng: 0,4428 gam. Mẫu vật sau giám định còn 0,3705 gam ma túy loại Methamphetamine.
Tại Cáo trạng số 185/CT-VKSBC ngày 09/8/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Phạm Quốc H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng như nội dung Cáo trạng mô tả và không có ý kiến gì khác.
Tại phần tranh luận:
- Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát trình bày luận tội:
+ Giữ nguyên quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát đối với bị cáo Phạm Quốc H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo H 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
+ Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy đối với mẫu vật còn lại sau giám định là 0,3705 gam ma túy loại Methamphetamine, 01 sim điện thoại số 0926.709.181 và 01 bình nhựa có nắp màu đỏ, trên nắp có gắn 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh và 01 đoạn ống thủy tinh. Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen.
- Bị cáo không bào chữa, không phát biểu ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng của bị cáo Phạm Quốc H: Bị cáo nhận thức hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật hình sự nên đồng ý với quyết định truy tố của Cáo trạng và luận tội của Kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Quốc H tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, do đó có đủ cơ sở kết luận:
Vào lúc 16 giờ 30 phút ngày 16/02/2023, tại phòng trọ số 09, nhà trọ không tên thuộc khu phố K, phường TĐ, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương do Phạm Quốc H thuê ở, lực lượng Công an tiến hành khám xét khẩn cấp phát hiện tại khu vực dưới nền trong phòng có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy và 01 hộp giấy cứng màu đen, bên trong có 04 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng. H khai chất tinh thể màu trắng là ma túy đá của H mua để sử dụng. Theo Bản Kết luận giám định số 93 ngày 24/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng (bị thu giữ), gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng: 0,4428 gam.
Hành vi cất giấu 0,4428 gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng của bị cáo Phạm Quốc H đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo H với tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, phù hợp với hành vi thực tế mà bị cáo đã gây ra.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy mà còn gây mất ảnh hương trật tự trị an tại địa phương. Ma túy là một loại chất độc dược gây ra tác hại rất lớn về nhiều mặt cho xã hội, làm ảnh hưởng đến sức khỏe của người sử dụng và cũng là mầm mống lan truyền các căn bệnh xã hội như HIV, AIDS, .... vv và còn là nguyên nhân dẫn đến những loại tội phạm khác.
Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có sức khỏe nhưng không chí thú làm ăn. Bị cáo biết rõ tác hại của ma túy đối với con người và xã hội, biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vẫn cố ý thực hiện, thể hiện thái độ thiếu ý thức, xem thường pháp luật. Do đó, đối với bị cáo cần phải có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất và mức độ phạm tội để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung, cần tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có ông nội là ông Phạm VL có công với cách mạng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về nhân thân: Bị cáo từng bị Tòa án nhân dân huyện Bến Cát (nay là thị xã Bến Cát) kết án về tội “Chống người thi hành công vụ”. Mặc dù bị cáo đã chấp hành xong hình phạt và được xóa án tích nhưng bị cáo không biết ăn năn hối cải mà vẫn tiếp tục phạm tội. Do đó, cần cân nhắc khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát về việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi mà bị cáo đã gây ra cũng như nhân thân; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được áp dụng nên có cơ sở chấp nhận.
Về vật chứng:
- Kết quả điều tra xác định trọng lượng ma túy (Methamphetamine) thu được là 0,4428 gam, sau giám định còn lại 0,3705 gam. Cơ quan giám định niêm phong, hoàn trả Cơ quan điều tra. Do đó cần tịch thu tiêu hủy trọng lượng ma túy còn lại.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, gắn sim thuê bao số 0926.709.181: Bị cáo xác định có sử dụng điện thoại để liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước đối với điện thoại này. Sim số 0926.709.181 không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 bình nhựa có nắp màu đỏ, trên nắp có gắn 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh và 01 đoạn ống thủy tinh không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với đối tượng không rõ nhân thân, lai lịch có hành vi bán ma túy cho H: Hiện Cơ quan điều tra đang tiếp tục điều tra làm rõ, khi xác định được sẽ xử lý sau.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Căn cứ vào khoản 2 Điều 106, Điều 136, Điều 299 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án; Tuyên xử:
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Phạm Quốc H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Phạm Quốc H 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/02/2023.
2. Về vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 (một) Bì thư dán kín số 93 ngày 24/02/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, bên trong chứa 0,3705gam ma túy, loại Methamphetamine;
+ 01 (một) sim điện thoại số 0926.709.181;
+ 01 bình nhựa có nắp màu đỏ, trên nắp có gắn 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh và 01 đoạn ống thủy tinh.
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen.
(Vật chứng đã được giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bến Cát theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08/8/2023).
3. Về án phí: Bị cáo Phạm Quốc H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - VKSND thị xã Bến Cát; - VKSND tỉnh Bình Dương; - Chi cục THADS thị xã Bến Cát; - Công an thị xã Bến Cát; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: HSVA, VT. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Lục Kim Thanh Lƣơng Thanh Nhàn | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Huỳnh THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Huỳnh |