vanban.org

Bản án 181/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Nam Định, tỉnh Nam Định Tuyên án 21/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đỗ Thái V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Đỗ Thái V 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm. Thời gian thử thách của bị cáo tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Đỗ Thái V cho Ủy ban nhân dân xã NV, thành phố NĐ, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Thái V - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Thái V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NĐ
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 181/2023/HS-ST
Ngày: 28-8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NĐ - TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Mai Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quang Bảo

Ông Đỗ Quang Chung

- Thư ký phiên toà: Bà Hứa Thu Hằng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố NĐ

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố NĐ tham gia phiên tòa: Ông Trần Quang Thành - Kiểm sát viên

Ngày 28 tháng 8 năm 2023, tại Tòa án nhân dân thành phố NĐ - tỉnh Nam Định, mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 165/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 165/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đỗ Thái V, sinh năm 1990 tại tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Thôn TH, xã NV, thành phố NĐ, tỉnh Nam Định; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; con ông: Đỗ Ngọc T, sinh năm 1961 và bà: Lại Thị P (đã chết); vợ, con: Không; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19-6-2023 đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Những người đại diện theo pháp luật của bị hại (bị hại là ông Phạm Quý H, sinh năm 1950; nơi cư trú trước khi chết: Thôn TH, xã NV, thành phố NĐ, tỉnh Nam Định):

1. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1953 (vợ ông Phạm Quý H)

2. Anh Phạm Quý N, sinh năm 1980 (con trai ông Phạm Quý H)

3. Anh Phạm Quý I, sinh năm 1982 (con trai ông Phạm Quý H)

4. Anh Phạm Quý P, sinh năm 1985 (con trai ông Phạm Quý H)

Cùng cư trú tại: Thôn TH, xã NV, thành phố NĐ, tỉnh Nam Định.

(Những người đại diện theo pháp luật của bị hại vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sau khi đã uống bia tại nhà bạn, khoảng 18 giờ 40 phút ngày 02-6-2023, Đỗ Thái V (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đen, biển kiểm soát (BKS) 18H1 - 8241 đi trên đường trục thôn TH, xã NV, thành phố NĐ hướng từ đường Vũ Hữu Lợi đến nhà văn hóa thôn TH để về nhà, trong điều kiện: Đường trục thôn TH là đường hai chiều, mặt đường được trải bê tông bằng phẳng rộng 4,05m, ở giữa không có vạch sơn kẻ để phân chia chiều đường; trời tối, không mưa, mặt đường khô ráo, không có đèn chiếu sáng, chỉ có ánh đèn nhà dân hắt sáng ra ngoài; mật độ người và phương tiện tham gia giao thông vắng. Đỗ Thái V điều khiển xe mô tô đi tại chiều đường bên phải theo hướng đi, cách mép đường bên phải khoảng 02m, với tốc độ khoảng 50km/h. Khi đi đến cách cửa nhà ông Phạm Quý H, sinh năm 1950, trú tại: Thôn TH, xã NV, thành phố NĐ khoảng 10m, do say bia, Vũ không làm chủ được tay lái nên đã điều khiển xe mô tô đi sang chiều đường ngược chiều, lao lên vỉa hè (rộng 0,75m) xô vào bên phải người ông H đang đứng cạnh chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đen, BKS 18B1 - 076.94 dựng trên vỉa hè, trước cửa nhà làm ông H bị đẩy về phía trước xô đổ xe mô tô BKS 18B1 - 076.94, phần khung chậu bên trái người ông H đè lên chân chống phụ bên trái xe mô tô BKS 18B1 - 076.94. Hậu quả: Ông Phạm Quý H bị: gẫy cánh tay phải, chân phải; gẫy xương sườn hai bên; vết thương mặt ngoài mông trái 06cm. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày ông H tử vong.

Tại hiện trường:

- Xe mô tô BKS 18B1 - 076.94 đổ ngả phải trên vệ đường trước cửa nhà ông Phạm Quý H; ghi nhận 03 dấu vết cày;

- Xe mô tô BKS 18H1 - 8241 đổ ngả trái cách xe mô tô BKS 18B1 - 076.94 là 13,85m.

Khám nghiệm xe mô tô BKS 18B1 - 076.94: Tại chân chống phụ, mặt ngoài càng xe bánh sau bên trái, mặt ngoài hộp xích, mặt ngoài cần số, ốp nhựa thân xe và vỏ yên bên trái xe có vết va chạm.

Khám nghiệm xe mô tô BKS 18H1 - 8241: Tại mặt ngoài má lốp và cạnh vành bánh trước bên trái, mặt ngoài ốp nhựa mặt nạ, ốp nhựa chắn bùn, ốp nhựa càng xe bánh trước và cánh yếm chắn gió bên trái đầu xe có vết va chạm; tại mặt ngoài kính đèn chiếu sáng phía trước, kính đèn chuyển hướng phía trước, ốp nhựa đèn phía trước bên trái đầu xe có vết va chạm.

Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 816/KLGĐTT-KTHS ngày 09-6-2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Nạn nhân Phạm Quý H chết do chấn thương khung chậu, mất máu cấp. Cơ chế: Vùng mông trái do va đập với vật cứng.

Ngày 02-6-2023, Cơ quan điều tra đã trưng cầu Trung tâm pháp y Sở Y tế tỉnh Ninh Bình giám định nồng độ cồn (Ethanol) trong mẫu máu thu giữ của Đỗ Thái V. Bản kết luận giám định số 038/KLGĐĐC-TTPY ngày 14-6-2023 của Trung tâm pháp y Sở Y tế tỉnh Ninh Bình kết luận: Nồng độ cồn (Ethanol) trong máu của Đỗ Thái V: C = 71,1mg/100ml.

Về vấn đề thu giữ, xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô BKS 18H1 - 8241 cho chủ sở hữu là Đỗ Thái V; trả lại xe mô tô BKS 18B1 - 076.94 cho chủ sở hữu là anh Phạm Quý P, sinh năm 1985, trú tại: thôn TH, xã NV, thành phố NĐ, tỉnh Nam Định.

Về trách nhiệm dân sự: Đỗ Thái V đã bồi thường cho gia đình ông Phạm Quý H số tiền 150.000.000 đồng. Đại diện gia đình ông H là anh Phạm Quý P (con trai ông H) đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu bồi thường gì khác.

Bản cáo trạng số 186/CT-VKSND-TPNĐ ngày 09-8-2023 Viện kiểm sát nhân dân thành phố NĐ truy tố bị cáo Đỗ Thái V tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận, ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Đỗ Thái V về tội danh, điều luật như bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đỗ Thái V phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

- Về hình phạt chính: Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đỗ Thái V 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

- Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Bị cáo Đỗ Thái V nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố NĐ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố NĐ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Thái V không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Về tội danh:

Khoảng 18 giờ 40 phút ngày 02-6-2023, Đỗ Thái V (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe mô tô BKS 18H1 - 8241 trong tình trạng có nồng độ cồn trong máu là 71,1mg/100ml đi trên đường trục thôn TH, xã NV, thành phố NĐ hướng từ đường Vũ Hữu Lợi về nhà văn hóa thôn TH đến trước cửa nhà ông Phạm Quý H, đã đi sang phần đường ngược chiều, lao tiếp lên vỉa hè, vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ năm 2008, khoản 8 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 1 Điều 35 Luật Phòng chống tác hại của rượu, bia năm 2019; điểm g khoản 3 Điều 6 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30-12-2019 của Chính phủ nên đã xô vào ông H đang đứng trước cửa nhà làm ông H tử vong .

Hành vi của bị cáo còn được chứng minh bằng lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện, bản kết luận giám định pháp y tử thi, lời khai của người làm chứng, thấy có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Đỗ Thái V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

3.1. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

3.2. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình. Sau khi xảy ra sự việc, bị cáo đã bồi thường cho gia đình ông Phạm Quý H. Đại diện gia đình ông H đã nhận tiền bồi thường và có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

. Về hình phạt:

4.1. Về hình phạt chính:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm an toàn, sự hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ, xâm phạm tính mạng của người khác. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Đỗ Thái V có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định ở khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định ở khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định ở khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt; có khả năng tự cải tạo, vì vậy không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ để bị cáo cải tạo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

4.2. Về hình phạt bổ sung:

Xét không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về phần dân sự:

Vấn đề dân sự giữa bị cáo với gia đình bị hại đã giải quyết xong vì vậy không đặt ra để xem xét.

Về án phí:

Bị cáo Đỗ Thái V bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Thái V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Đỗ Thái V 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm. Thời gian thử thách của bị cáo tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Đỗ Thái V cho Ủy ban nhân dân xã NV, thành phố NĐ, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

3, Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Đỗ Thái V cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

4. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Bị cáo Đỗ Thái V phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

5. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện theo pháp luật của của bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật thi hành án dân sự: Bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ