- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Khắc T phạm tội "Đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Khắc T, sửa bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 181/2023/HS-PT Ngày: 30-10-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa:
Ông Đỗ Mạnh Hùng
Các Thẩm phán:
Bà Lê Thị Vân
Ông Nguyễn Duy Hoài
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Lương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Đào - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 193/TLPT-HS ngày 06/10/2023 đối với bị cáo Đỗ Khắc T, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 74/2023/HS-ST ngày 17/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
- Bị cáo kháng cáo:
Đỗ Khắc T; sinh năm 1969 tại tỉnh Ninh Bình; nơi ĐKHKTT và cư trú: Thôn B, xã M, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: Lớp 3/10; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Đỗ Khắc L (đã chết) và bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1939; vợ Trần Thị C, sinh năm 1975 và có 02 người con, lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 2000; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngọai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoáng 14 giờ 30 phút, ngày 28/01/2023, Công an xã M, huyện L, tỉnh Lâm Đồng tiến hành kiểm tra và bắt quả tang tại nhà Lưu Quang H, sinh năm 1973, trú tại: Thôn C, xã M, huyện L, tỉnh Lâm Đồng có 04 người đang tham gia đánh bạc dưới hình thức đánh “phỏm” được thắng thua bằng tiền mặt bao gồm: Lưu Quang H, Trương Mạnh H1, Lưu Văn N và Đỗ Khắc T.
Quá trình điều tra xác định: Vào trưa ngày 28/01/2023, Trương Mạnh H1, Lưu Văn N, Đỗ Khắc T đến nhà Lưu Quang H để ăn nhậu. Đến khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày, khi ăn nhậu xong thì Lưu Quang H, Trương Mạnh H1, Lưu Văn N, Đỗ Khắc T cùng rủ nhau đánh bạc bằng hình thức đánh “Phỏm” thắng thua bằng tiền mặt. Lưu Quang H lấy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá đã cũ có sẵn ở nhà mình rồi cùng N, H1, T ngồi xuống chiếu cói đã có sẵn trong nhà để đánh bài với nhau.
Trong quá trình chơi H, H1, N, T quy định như sau: Khi bắt đầu chơi người chia bài sẽ chia cho mỗi người là 09 lá bài, người chia bài là người đánh đầu tiên thì được chia 10 lá bài, đánh theo chiều kim đồng hồ. Mỗi người chơi sẽ đánh ra 01 lá bài, những người sau nếu hợp và tạo thành phỏm thì có thể ăn lá bài đó rồi nhả ra một lá bài khác cho người tiếp theo. Luật chơi tiếp tục cho khi đến hết 04 lượt thì dừng lại. Số điểm được tương ứng với số lá bài, các lá: A, J, Q, K thì được tính điểm là 1, 11, 12, 13. Ai “ù” là nếu tất cả 09 lá bài tạo thành các “phỏm”, ai “móm” là các lá bài trên tay không tạo thành “phỏm”. Các đối tượng thống nhất số tiền như sau: ai “móm” (không có phỏm thì phải trả cho người về nhất là 150.000đ, ai “ù” thì 03 người còn lại mỗi người trả cho người “ù” số tiền là 150.000đ. Ai về nhì thì trả cho người về nhất là số tiền 50.000đ, ai về ba thì trả cho người về nhất là 100.000đ; ai về bét thì trả cho người về nhất số tiền là 150.000đ. Người nào bị ăn cây “chốt” thì thua 100.000đ/01 cây, người nào bị ăn cây thường thì thua 50.000đ/1 cây. Quá trình chơi không ai thu tiền xâu, không có ai cho vay hay cầm cố gì. Số tiền các bị cáo sử dụng mục đích đánh bạc như sau: Lưu Quang H mang theo số tiền 3.010.000đ, sử dụng 2.000.000đ để đánh bạc, còn lại 1.010.000đ không sử dụng để đánh bạc. Trương Mạnh H1 mang theo số tiền 7.840.000đ, sử dụng 2.000.000đ để đánh bạc, còn lại 5.840.000đ không sử dụng vào mục đích đánh bạc. Đỗ Khắc T mang theo số tiền 1.850.000đ, sử dụng hết để đánh bạc. Lưu Văn N mang theo số tiền 3.200.000đ, đã sử dụng 3.000.000đ để đánh bạc, còn lại 200.000đ không sử dụng để đánh bạc. Toàn bộ số tiền các đối tượng đã sử dụng đề đánh bạc là 8.850.000đ (tám triệu, tám trăm năm mươi ngàn đồng).
Vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) bộ bài tú lơ khơ loại 52 lá; 01 (một) chiếu cói màu vàng đỏ. Thu giữ trước mặt Lưu Quang H số tiền 550.000đ, trên người 1.010.000đ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu hồng. Thu giữ trước mặt Đỗ Khắc T số tiền 2.100.000đ, trên người 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO RENO 4 màu xanh. Thu giữ trước mặt Lưu Văn N số tiền 2.500.000đ, trên người 200.000đ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A9, màu xanh. Thu giữ trước mặt Trương Mạnh H1 số tiền 3.700.000đ, trên người 5.840.000đ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu trắng.
Về xử lý vật chứng: Ngày 23/5/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện L, tỉnh Lâm Đồng ra quyết định xử lý vật chứng trả cho: Lưu Quang H số tiền 1.010.000đ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu hồng. Đỗ Khắc T 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO RENO 4 màu xanh. Lưu Văn N số tiền 200.000đ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A9 màu xanh. Trương Mạnh H1 số tiền 5.840.000đ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu trắng.
Cáo trạng số 76/CT-VKS ngày 22/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng đã truy tố các bị cáo Lưu Quang H, Trương Mạnh H1, Lưu Văn N và Đỗ Khắc T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Bản án hình sự sơ thẩm số 74/2023/HSST ngày 17/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng đã xử:
Tuyên bố các bị cáo Lưu Quang H, Trương Mạnh H1, Lưu Văn N và Đỗ Khắc T phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Đỗ Khắc T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo tự nguyện thi hành án hoặc bắt thi hành án.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lưu Quang H số tiền 35.000.000đ (ba mươi lăm triệu đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trương Mạnh H1 số tiền 35.000.000đ (ba mươi lăm triệu đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lưu Văn N số tiền 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.
Ngoài ra, bản án còn xử lý vật chứng, tuyên án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 24/7/2023 bị cáo Đỗ Khắc T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, được hưởng án treo.
Tại phiên tòa bị cáo Đỗ Khắc T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo, không thắc mắc, khiếu nại bản án sơ thẩm và giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Khắc T, áp dụng Điều 36 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 15 – 18 tháng cải tạo không giam giữ, miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Cơ quan tiến hành tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đơn kháng cáo của bị cáo Đỗ Khắc T đúng về hình thức, nội dung, trong hạn luật định nên kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, đủ cơ sở để Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi như bản án sơ thẩm quy kết. Xét lời khai nhận tội của bị cáo thống nhất với lời khai của các bị cáo khác, người làm chứng, phù hợp với tất cả các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ ngày 28/01/2023 tại nhà Lưu Quang H, Lưu Quang H, Trương Mạnh H1, Lưu Văn N, Đỗ Khắc T cùng rủ nhau đánh bạc bằng hình thức đánh “Phỏm” thắng thua bằng tiền mặt. Lưu Quang H lấy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá đã cũ có sẵn ở nhà mình rồi cùng N, H1, T ngồi xuống chiếu cói đã có sẵn trong nhà để đánh bài với nhau. Số tiền các bị cáo sử dụng mục đích đánh bạc như sau: Lưu Quang H mang theo số tiền 3.010.000đ, sử dụng 2.000.000đ để đánh bạc, còn lại 1.010.000đ không sử dụng để đánh bạc. Trương Mạnh H1 mang theo số tiền 7.840.000đ, sử dụng 2.000.000đ để đánh bạc, còn lại 5.840.000đ không sử dụng vào mục đích đánh bạc. Đỗ Khắc T mang theo số tiền 1.850.000đ, sử dụng hết để đánh bạc. Lưu Văn N mang theo số tiền 3.200.000đ, đã sử dụng 3.000.000đ để đánh bạc, còn lại 200.000đ không sử dụng để đánh bạc. Toàn bộ số tiền các đối tượng đã sử dụng để đánh bạc là 8.850.000đ (tám triệu, tám trăm năm mươi ngàn đồng).
Cấp sơ thẩm đã tuyên xử các bị cáo Lưu Quang H, Trương Mạnh H1, Lưu Văn N và Đỗ Khắc T phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo Đỗ Khắc T thấy rằng: Bị cáo được Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và bị xử phạt bị cáo mức án 06 tháng tù là có căn cứ, đúng pháp luật. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo và xuất trình đơn trình bày hoàn cảnh khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương, đây là tình tiết giảm nhẹ mới theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên có cơ sở để xem xét kháng cáo của bị cáo. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiệm trọng, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, đang nuôi cháu nội bị bệnh xuất huyết giảm tiểu cầu vô căn phải điều trị tại Viện huyết học máu Thành phố H, cứ 15 ngày phải đi truyền máu. Để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Xã hội chủ nghĩa, xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cần xử phạt bị cáo hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Theo quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật Hình sự thì bị cáo còn phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập để sung quỹ nhà nước. Tuy nhiên, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, đang phải nuôi cháu nội bị bệnh nan y nên miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo là phù hợp.
Do đó, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Khắc T, sửa bản án sơ thẩm như đã nhận định nêu trên.
Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm đ khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Khắc T, sửa bản án sơ thẩm.
Tuyên bố bị cáo Đỗ Khắc T phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 36 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Đỗ Khắc T 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện L, tỉnh Lâm Đồng nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
Giao bị cáo Đỗ Khắc T cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện L, tỉnh Lâm Đồng, nơi bị cáo cư trú để giám sát giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.
2. Căn cứ Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí tòa án. Bị cáo Đỗ Khắc T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Vân – Nguyễn Duy Hoài
Đỗ Mạnh Hùng
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Lâm Đồng (01); - Vụ GĐKT I – TANDTC (01); - Phòng KTNV&THA (02); - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng (01); - Phòng PV06- CA tỉnh Lâm Đồng (01); - TAND huyện Lâm Hà (02); - VKSND huyện Lâm Hà (01); - Cơ quan CSĐT CA Lâm Hà (01); - Cơ quan THAHS CA Lâm Hà (01); - Bị cáo (01); - Hồ sơ THAHS (04); - Lưu hồ sơ; Án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Mạnh Hùng |